Lưu Pocket Xuất PDF
https://i.imgur.com/qVXrCVu.png

Tập 6 - Dù được ban đôi cánh いまさら翼といわれても[sửa | sửa mã nguồn]

71YyGxHuiiL-0.jpg

Thứ còn thiếu trong hộp[sửa | sửa mã nguồn]

1.[sửa | sửa mã nguồn]

Tôi không phải kiểu người nhớ dai những thứ đã đến rồi đi. Giả mà có ai kể lại điều gì đó chắc-chắn-đã-xảy-ra vào, ví dụ như tiểu học hay sơ trung đi, thì chín trên mười trường hợp tôi chỉ có thể nghệt mặt ra nhìn họ mà đáp “Vậy à”. Tuy vậy cũng có những ý ức san sẻ cho tôi cùng những người khác mà sau này thường thì chỉ tôi là người còn vương vấn đôi chút. Chẳng thể hiểu được cái gì đã phân định ra “thứ mình sẽ quên” và “thứ mình luôn nhớ” nữa.

Rà soát lại ký ức là hành trình lao vào một bầu xám vô tận với những nơi chốn và sự kiện đã không còn rõ nét. Giữa cái bầu xám ấy vẫn có chút những sắc màu lấp lánh, bao gồm các sự kiện như Đại hội Thể thao, những buổi kiến tập hay chuyến dã ngoại băng rừng của trường –  những ký ức mà, dù trải qua sự bào mòn của thời gian vẫn chiếm lấy những vị trí nhất định trong tâm thức đến nỗi tự tôi phải thấy kinh ngạc trước sự bền bỉ của chúng, mà nổi bật lên thứ nền của mớ nhảm nhí còn lại chả đáng lưu tâm. Mặt khác, tôi cũng nhận ra có những lúc mình nhớ về những phần tí nị về một ngày hoàn toàn bình thường, nếu không muốn nói là tầm thường so với những ký ức lấp lánh kia. Khác với những hồi ức chi tiết được chốt lại bằng một cái tựa hệt như một bài báo, chúng cực kỳ phân mảnh và có trời biết ai đã sắp xếp chúng theo một trật tự như vậy. Dù rời rạc, dù phân mảnh nhưng chúng vẫn ở đó, những ký ức như được phơi thành những bức ảnh ố vàng mà người ta không đành lòng dẹp đi. Đó là vô số lần nhìn những làn nước mùa hạ va vào nhau tạo thành những con xoáy nhỏ mãi không chán, là bầu tưởng tượng như được gắn lò xo mà bung lên bung xuống dọc theo những hàng sách với tay không nổi trong thư viện vào mùa đông, là cuộc tranh giành cuốn sách cuối cùng ở cửa hàng trên đường về nhà với đứa bạn để rồi chẳng thằng nào mua được giữa trời thu dịu mát…

Một lần nữa, giá mà tôi biết điều gì đã phân định những ký ức ấy là phải nhớ giữa vô vàn thứ có thể quên…

Cuối cùng là những khoảnh khắc làm tôi ngay lập tức hiểu rằng “Mình sẽ không thể quên.” Chẳng phải tôi vẫn luôn nhớ về cái đêm tháng Sáu ấy khi rảo bước trên con đường ngập tràn gió ấm? Nhưng… có lẽ phải thêm mười, hai mươi năm nữa tôi mới có thể xác nhận được rằng có những thứ mãi mãi không thể quên hay không.

Mọi chuyện bắt đầu với một cuộc điện thoại.


2.[sửa | sửa mã nguồn]

Tôi làm yakisoba cho bữa tối.

Trời hôm đó quang đãng tới tận trưa, nhưng chiều tối lại nhiều mây nên có lẽ đã ngăn hơi nóng từ đất đào thoát lại bâu trời, khiến bầu không khí xung quanh tôi ấm và ẩm dù mặt trời đã lặn. Những thành viên khác trong gia đình có đủ thứ để mà lo nên tôi thường là người bị bỏ lại ở nhà. Nấu nướng đàng hoàng có vẻ mệt, tôi bèn đảo mắt qua nội thất trong cái tủ lạnh với hy vọng tìm thấy cái gì đang ăn dở hoặc không tốn quá nhiều sức lực và nhìn thấy gói mì lạnh loại dùng làm yakisoba.

Tôi còn tìm thấy một bó rau diếp, nấm kim châm khô và thịt xông khói. Cắt nhỏ những thứ ăn kèm xong tôi đổ dầu vào chảo đã làm nóng rồi thả mì vào. Hơi trắng bắt đầu tỏa ra từ chảo khiến tôi có chút lo lắng vì mình không dùng nước nhưng cảm giác đó không kéo dài quá vài phút. Tôi nhấc phần mì giòn rụm, đôi chỗ hơi cháy nhưng các sợi mì đều đã tách nhau ra một cái đĩa rồi tiến hành xào những thứ ăn kèm. Lấy cây đũa dài đẩy những thứ trông có vẻ đã chín ra thành chảo, tôi đổ sốt Worcestershire vào vùng trống chính giữa. Khi sốt bắt đầu sôi cũng là lúc mùi hương đặc trưng của nó ảm lên gian bếp một bầu không khí rất “yakisoba”. Rưới sốt cùng thứ ăn kèm lên mì, thế là bữa tối đã sẵn sàng.

Tôi cầm cái đĩa mì lên phòng khách cùng đôi đũa và một ly trà lúa mạch. Trên bàn lúc này có một thứ trông như bưu thiếp của bà chị yêu dấu, đề chữ “Thông báo họp lớp 3-I”. Chẳng dám tưởng tượng những lời vàng ngọc nào sẽ được thêu nên nếu tấm bưu thiếp bị dính sốt tôi bèn bỏ tấm bưu thiếp trên kệ chỗ để thư. Giờ thì chẳng còn gì gây xao nhãng cuộc hưởng thụ nữa rồi. Vỗ hai tay vào nhau, tôi vừa nhấc đũa lên thì chuông điện thoại réo.

Nhìn lên đồng hồ và thấy kim chỉ đúng bảy giờ ba mươi… hay cho ai nhè đúng giờ ăn tối của một người bình thường mà gọi. Thêm nữa, với việc tôi là người duy nhất trong nhà thì dù họ muốn gặp ai người đó cũng đâu có ở đây? Nghĩ vậy tôi định bụng lờ tịt đi mà quay lại đĩa mì vẫn còn bốc khói… nhưng những âm thanh không ngớt và chân thành ấy lại khiến cảm giác tội lỗi dâng lên theo từng giây. Đã làm thì phải làm cho nhanh, tôi đặt đũa xuống mà thở dài một cái, trước khi đứng lên rồi lấy tay nghe.

“Vâng.”

“Alo, cho cháu hỏi Oreki-kun…”

Tôi đã tưởng đối tượng của cuộc gọi là ba hoặc bà chị nhưng âm thanh từ bên kia đầu dây lại quá đỗi thân quen. Có lẽ cũng nhận ra, đối tượng nhanh chóng chuyển từ phép nói lịch sự sang kiểu bình thường.

“Houtarou?”

“Ờ.”

“Ui, nhẹ cả người. Hổng nghĩ cậu lại là người nhấc máy. Tớ còn đang loay hoay không biết nói làm sao nếu là chị cậu ấy chứ.”

Ờ, ngẫu nhiên ghê.

“Xin lỗi, nhưng một giây nói chuyện là một giây yakisoba của tớ nguội hơn.”

“Cái gì? Yakisoba á? Thiệt là thảm họa mà!”

Ờ, thảm họa thật.

“Hiểu là tốt. Giờ thì cảm phiền vô vấn đề chính.”

Tôi nghe thấy tiếng cười.

“Có di động thì đỡ hơn biết bao rồi. Mà thôi đó không phải vấn đề… tớ đang hy vọng có thể di dạo với cậu một tẹo. Lát nữa có rảnh không?”

Tôi không phải dạng cú đêm, thậm chí là đi ra ngoài sau bữa tối cũng là một dịp gì đó rất hiếm… ừ, hiếm chứ không phải không có. Nghĩ lại thì tôi cũng từng la cà buổi tối với Satoshi một lần. Nhìn lên đồng hồ lần nữa, mười năm phút là đủ để xơi hết đĩa mì và tính thêm một chút thời gian thay đồ…

“Ờ, tám giờ nhé.”

“OK. Tuyệt vời. Có cần tớ qua đón không?”

Vẽ một tấm bản đồ từ nhà mình đến nhà hắn trong đầu, tôi chắc rằng hắn sẽ muốn đi tới đây vì là người chủ động rủ. Nhưng… “hành hạ” như vậy thì không hay lắm, tôi bèn kiếm một nơi gần chính giữa đường đi từ nhà hai thằng.

“Gặp nhau ở cầu Akabashi đi.”

“Được đấy. Thôi, không nên để món yakisoba của cậu nguội thêm giây nào nữa. Gặp nhau nói chuyện tiếp. Bái bai.”

Cuộc gọi kết thúc cái rụp. Satoshi biết việc tốn hơi sức vào một lời chào lằng nhằng chỉ tổ khiến tôi phát bực. Hắn luôn nhạy cảm như thế. Trở về bàn tôi nhận ra mặt trên của đĩa mi yakisoba đã nguội, nhưng chỉ với một hai cú trộn đũa thì hơi nóng lại bốc lên.

Trăng sáng xuyên qua tầng mây mỏng và một cơn gió ẩm bận rộn len lỏi giữa các tòa nhà phủ. Vừa rời khỏi nhà tôi lập tức cảm thấy cực nóng dù đang là buổi tối có gió nên bèn chạy vào nhà thay ngay chiếc áo len bằng áo cotton. Không thể đút vừa ví vào mấy cái túi nhỏ xíu của cái quần chinos, dùng túi đeo thì lại không thoải mái, nhưng cũng không định để mình Satoshi phải dốc hầu bao nếu hai thằng vì sao đó phải dùng tiền, tôi bèn rút ra hai tờ một ngàn yên nhét vào túi áo. Đúng giờ hẹn, tôi rời khỏi nhà. Đêm luôn buông sớm ở thành phố Kamiyama. Đút hai ngón cái vào túi quần tôi bước trên con đường hẹp lúc này đã yên tĩnh.

Dù chả có gấp gáp gì nhưng tôi đã đến điểm hẹn chưa đầy mười phút. Cây cầu tên Akabashi, dịch nghĩa đen là “cầu Đỏ”, là một địa điểm hoàn toàn bình thường. Thực tế mà nói tên vốn dĩ của nó không phải như vậy. Sở dĩ gọi là cầu Đỏ vì, chắc các bạn thừa đoán được, nó được sơn đỏ, chứ cái tên cũ chẳng hiểu vì sao lại rất dễ quên. Khu vực này vào trưa chiều đông phải biết vì là nơi tọa lạc của nhiều ngân hàng và bưu điện, nhưng giờ tôi mới biết về đêm nó lại cô quạnh đến thế. Trên cây cầu Đỏ được chiếu sáng bởi đèn đường chẳng có ai. Lạ thật, tôi nghĩ, mình cứ nghĩ cậu ta sẽ đi trước. Vừa quay đầu nhìn đi chỗ khác thì một bàn tay từ phía sau chợt vỗ vào vai tôi.

“Chào…”

Bảo không hết hồn thì đúng là làm bộ, chỉ là tôi không tỏ ra cho lắm vì một cuộc tập kích bất ngờ là điều đã tiên liệu trước. Không thèm quay lại, tôi đáp gọn lỏn: “Ờ.”

“Thất vọng quá. Tình cảm đâu cả rồi?”

Satoshi đảo ra trước tôi với một cái cười ranh ma nhưng lần này có vẻ không thật tâm lắm. Hắn không nhìn vào tôi, mà vào một điểm trên thành cầu khi tiếp tục:

“Giờ đi đâu ta?”

“Tùy cậu.”

Tôi không có nhiều kinh nghiệm về đi đêm nên chẳng biết lộ trình nào là “bình thường”. Quay sang tôi, Satoshi nói: “Đi về phía trung tâm thành phố thì nhộn nhịp hơn nhưng… hầu hết giờ này chỉ có mấy quán bar mở cửa. Tớ hơi sợ.”

“Đúng vậy, thưa ngài Phó chủ tịch.”

“Có một quán ăn gia đình nếu tụi mình cứ đi hết con đường này. Mở cửa hai bốn trên hai bốn.”

Xa nhỉ. Không có xe hơi hay thậm chí là xe đạp thì sao mà đến? Tôi còn tưởng Satoshi chỉ giỡn thì hắn lại nói:

“Thôi, cứ để ngọn gió dẫn lối vậy.”

I didn't have much experience with these kinds of things, so I didn't know what was normal for a nighttime stroll. Satoshi turned his head and said, "It'll get a little more lively if we walk towards the city, but... I guess we can't go through the streets with all the bars. They're pretty scary."

Ừ thì đi.

Băng qua cầu Akabashi chúng tôi theo con đường nhỏ dọc con sông về phía thượng. Đương là mùa mưa nên mực nước có vẻ cao hơn bình thường và dòng xiết đến nỗi tôi có thể nghe những tiếng ầm ì. Khu vực này không có đèn nên chỉ có thể dựa vào nguồn sáng len qua những khung cửa sổ hai bên đường cùng ánh trăng thi thoảng thoát khỏi những vầng mây. Mắt dần quen với bóng tối, tôi băng qua một cái hốc lia chia những cái mấu như hốc mắt của mảnh rào gỗ có tuổi, qua một quán rượu thiết kế lạ mắt với một quả bóng được đan bằng lá tuyết tùng tạo thành một cái chuông treo trên phần máng xối trước cửa vào, rồi lại qua một nhà tắm công cộng xập xệ với tấm biển ghi chữ “Đóng cửa” treo một bên cửa… chúng tôi cứ thế mà bước giữa làn đêm.

Hai bên bờ sông đều có đê trông như những bức tường đá lớn với lớp ngoài cùng là một hàng cây rậm rạp. Trong số chúng thi thoảng lại có vài cái thân chìa ra về phía mặt nước như muốn cố hứng ánh sáng vào mình. Ngừng lại, tôi đặt tay lên một cành cây. Bề mặt đầy những vết lồi lõm còn lá thì to cỡ lá tía tô. Đây là cây anh đào. Với mặt đường được chăm chút thế này thì hẳn đây là một điểm ngắm lý tưởng vào mùa hoa nở. Đó là trong một thời điểm khác, chứ bây giờ với tôi và Satoshi chúng chỉ là những thân cây trơ trụi mà phải nhìn kỹ mới biết là cây gì. Nghe buồn nhỉ, nhưng ta làm gì được? Thời gian vẫn cứ trôi.

Nhấc tay khỏi cành, tôi hỏi: “Vậy, có chuyện gì?”

Satoshi hẳn là không kêu tôi đi bộ chỉ để thưởng ngoạn trời đêm.

Vậy đấy, quan hệ giữa chúng tôi không sâu đậm tới cỡ đó. Hiếm khi có kế hoạch vào cuối tuần, và khi hai thằng đi về chung thường chỉ là vì hết việc ở trường cùng một thời điểm. Hắn gọi tôi ra lúc này chắc chắn là muốn nói cái gì, và không chỉ thế, mà cái việc đó còn khẩn cấp tới mức không thể chờ đến sáng mai hoặc bí mật tới mức chẳng thể nói ở trường.

Satoshi tôi biết thường chọn đi đường vòng, nhưng tối nay hắn chọn đường thẳng.

“Tớ đang ở thế khó,” hắn nói khi tiếp tục bước đi.

“Và tớ thì không muốn dây vào rắc rối.”

“Rắc rối à? Ít nhất thì tớ có thể chắc rằng mình đang ở thế khó, nhưng vấn đề lớn nhất với tớ là ở chỗ nó hoàn toàn chả liên can gì tới cậu.”

Chả hiểu hắn muốn nói gì tôi thở dài một cái, còn hắn chỉ nhún vai.

“Nói cách khác, thế khó của tớ nằm ở chỗ tớ cần cậu giúp đỡ Houtarou ạ, dù lần này cậu chẳng được lợi lộc gì.”

“Ừ. Và nếu tớ làm theo lời cậu…”

“Thì nó sẽ đi ngược với phương châm “Việc không làm thì bỏ” đúng không?”

Satoshi nói đúng, nhưng dù gì tôi cũng đã tọng hết đĩa yakisoba trong một hơi để tới đây. Nếu định từ chối mà không thèm nghe đến câu chuyện “chẳng mang lại lợi lộc gì” thì lẽ ra tôi nên ở nhà rửa chén.

“Ít nhất thì cứ nói đi đã.”

Satoshi gật đầu.

“Cậu quá tốt với tớ. Cậu có nhớ hôm nay trường mình tiến hành bầu cử Hội trưởng Hội học sinh nhỉ?”

“Ừ…”

Dù mới diễn ra được vài giờ tôi đã xém quên. Sau giờ học toàn thể học sinh đã tiến hành bầu ra người sẽ kế nhiệm Muneyoshi Kugayama mà trở thành Hội trưởng mới.

Ở Cao trung Kamiyama kỳ bầu chọn kéo dài một tuần lễ. Trong thời gian này các ứng viên sẽ đăng áp phích khắp nơi trong trường, hùng biện vào mỗi tiết sinh hoạt chung và tranh luận lẫn nhau vào những buổi tọa đàm do CLB Phát thanh lên kế hoạch. Tất cả đều kết thúc vào hôm qua, và hôm nay chính là ngày bầu cử.

“Cậu có nhớ các ứng viên không?”

Tôi lục lọi trí nhớ nhằm trả lời cho Satoshi.

“Có hai… hay ba người thì phải.”

Hắn cười đáp:

“Tớ tính nói là tên nhưng xem ra tới số lượng cậu cũng chả nhớ nhỉ. Chính xác là chỉ có hai. Cũng phải, trường mình không thiếu những CLB kỳ lạ và nếu so sánh thì Hội học sinh trông chả nổi bật cho lắm.”

“Ừ, và cả hai đều là học sinh năm hai.”

“Cậu nhớ được cái đó à? Ừ, dù điều đó là hiển nhiên. Năm nhất thì mới vào từ tháng Tư, còn năm ba thì bận ôn thi mất rồi.”

Ra là vậy, xem ra nó chẳng đáng để nhớ.

“Đó là Haruto Obata lớp D và Seiichirou Tsunemitsu lớp E. Thường thì người ta nghĩ bỏ phiếu xong là hết chuyện, nhưng tớ là một trong những người có nhiệm vụ đếm phiếu bầu.”

Không hứng thú lắm với chuyện sau cánh gà của buổi bầu cử tân Hội trưởng hội học sinh Cao trung Kamiyama cho lắm, dù vậy trong câu nói của Satoshi ít nhiều khiến tôi tò mò. Satoshi Fukube luôn tự dấn thân vào vô số các hoạt động đội nhóm vì những lý do có trời biết. Cụ thể hắn là thành viên có thớ của CLB Thủ công, CLB Cổ điển đồng thời cũng phụ việc cho Ủy ban phụ trách chung từ năm nhất. Lên năm hai hắn không kèn không trống mà tiếp quản chức Phó chủ tịch. Dù có mù thông tin đến mấy thì tôi cũng nhớ là bản thân Ủy ban phụ trách chung cũng có bầu cử…

“Vậy cuộc bầu cử bị làm sao?” Tôi hỏi.

Ngay lập tức Satoshi mỉm cười.

“Dĩ nhiên chịu trách nhiệm về thùng phiếu và kiểm phiếu thuộc một ban khác là Ban Bầu cử. Tớ chỉ đóng vai trò giám sát. Luật bầu cử của trường ghi rõ phải có ít nhất hai học sinh giám sát quá trình kiểm phiếu và không ai trong số họ được phép là ứng viên… nghĩa là cậu cũng được đấy. Dù vậy theo truyền thống mọi năm thì hai vị trí này được giao cho Trưởng và Phó chủ tịch phụ trách chung. Cũng hợp lý, đỡ phải mỗi năm mỗi đi kiếm.”

Nói thì nghe trơn mướt thế nhưng cũng chính vì cái sự không do dự đó lại khiến tôi thấy có gì khả nghi. Chúng ta đang nói đến Satoshi cơ mà… Như thể nhận ra điều đó hắn liền thêm vào.

“Nói nghiêm túc đó! Tớ không có xạo đâu. Quá trình bầu cử là tuyệt-đối-công-minh!” Hắn khẳng định.

“Rồi rồi. Thế thì có chuyện gì?”

“Vấn đề xảy ra khi kiểm phiếu.”

Ồ.

“Hiện tại Cao trung Kamiyama có một ngàn không trăm bốn mươi chín học sinh, nói cách khác là tối đa một ngàn không trăm bốn mươi chín phiếu bầu hợp lệ.”

Khi vào đây tôi biết có ba trăm năm mươi học sinh năm nhất được chia làm tám lớp, thế nên con số Satoshi đưa ra là hợp lý cho cả ba khối.

Đoạn hắn thở dài.

“Ừ thì, khi tính tổng số phiếu… con số tụi này nhận được là một ngàn không trăm tám mươi sáu.”

“Làm sao mà…”

Lời nói vuột ra khỏi miệng trước cả khi tôi ngờ đến. Nếu tổng số phiếu ít hơn số học sinh thì còn dễ hiểu. Đâu đảm bảo được ai cũng đến trường trong này hôm nay… nhưng nhiều hơn sao? Satoshi gật đầu đồng tình.

“Tớ cũng không hiểu. Nếu tính cả những người vắng, những người về sớm hay thậm chí là không muốn bầu thì lẽ ra số phiếu phải ít hơn số học sinh mới hợp lý. Nhiều hơn cận trên hàng chục phiếu thế này tớ không nghĩ đơn giản chỉ là một sai sót.”

Khựng lại một chốc, hắn tiếp tục:

“Có người đã cố tình làm vậy”

Tôi không đáp lại.

Đúng như Satoshi nhận xét, dựa vào những thông tin được nghe kể tôi cũng khó mà tin được sự việc này là kết quả của sai sót. Nói là âm mưu của một ai thì có khi hơi quá, lỡ như họ chỉ muốn đùa cho vui… nhưng một điều chắc chắn là đã có một thế lực nào đó gây sai lệch kết quả bầu cử.

“Thực tế thì sự dôi ra này gần bằng với số lượng phiếu trắng. Nếu những phiếu được cố tình thêm vào đều là phiếu trắng thì dĩ nhiên kết quả sẽ không thay đổi, nhưng đó chỉ là một tình huống quá ấu trĩ để mà tin vào. Nếu có thể chứng minh rằng luật bầu cử đã bị vi phạm ở đâu đó thì Ban Bầu cử sẽ phải tổ chức bầu lại. Tớ không quá quan tâm ai là người làm chuyện này, kể cả lý do họ làm thế… mà nói chứ có khi tớ sẽ không bao giờ tìm ra một ai liên quan tới vụ này. Điều duy nhất tớ cần biết là làm sao họ có thể làm điều đó.”

“…”

“Yếu tố tai hại nhất dẫn đến cớ sự vầy là việc người chịu trách nhiệm làm phiếu quá tệ hại tới mức ai cũng có thể làm giả. Tất cả việc cậu phải làm là thó trộm con dấu vứt lăn lóc trong phòng Hội học sinh đầy dịp vắng người, nhưng làm sao để những lá phiếu giả có thể được tuồng vào bên trong? Một lỗ hổng đang tồn tại đâu đó trong tiến trình bầu cử của Cao trung Kamiyama. Nếu không bịt sớm thì trong tương lai ai dám chắc được là nó sẽ không lặp lại? Và khi đó dù đợt bầu cử trông có vẻ ổn thỏa thế nào thì chúng ta sẽ vẫn chìm trong lo lắng về sự tồn tại của những phiếu bầu ma.”

“Đúng vậy.”

“Tớ đã suy nghĩ rất nhiều, nhưng đi con đường nào cũng đụng phải ngõ cụt. Thế nên, dù không muốn tớ vẫn đã gọi cậu ra đây Houtarou ạ.”

Satoshi dừng lại.

Nếu đó là mọi thứ hắn muốn nói thì xem ra tôi đã mường tượng được vấn đề. Gãi đầu, tôi ngước mắt nhìn lên vầng trăng lúc này cũng khẽ liếc trộm qua đám mây, trước khi hạ điểm nhìn xuống hai bàn chân.

“Có lẽ tớ nên đi về,” tôi đáp.

Con đường nhỏ tiếp tục trải dọc bờ sông mà bị cắt tại hai cây cầu. Chúng tôi cứ hướng về thượng nguồn, nhưng thượng nguồn còn bao xa? Có lẽ đã quá trễ cho một chuyến thám hiểm.

“Về à…” hắn nói, giọng điệu như thể đã đoán từ trước. “Xem ra tớ đòi hỏi quá nhiều rồi nhỉ.”

Chả có gì là nhiều ở đây cả. Vấn đề nằm ở chính hắn và tôi chắc rằng hắn biết nhưng cố tình tảng lờ.

“Ừ, đôi khi nói cho người khác là cách để tự mình hiểu rõ hơn vấn đề nên tớ đã nghe. Chuyện đó để mai tính, giờ thì tớ còn một mớ chén dĩa cần phải rửa. Không nhanh về thì cả nhà đầy mùi sốt mất.”

“Bộ giờ thì chưa à?”

Đáng buồn là hắn nói đúng. Lẽ ra phải mở cửa sổ trước khi ròi khỏi nhà.

Một luồng sáng tiếp cận từ chính diện. Đó là đèn từ một chiếc xe đạp đi ngược hướng. Trước khi nó chạy qua không ai trong chúng tôi nói gì. Cuối cùng Satoshi phải phá vở bầu im lặng.

“Mai thì đã trễ. Tớ cần một ý tưởng trong tối nay.”

“Vì muộn nhất là chiều mai kết quả bầu cử phải được công bố đúng không? Tớ hiểu. Nhưng đó là việc của Ban Bẩu cử.”

Thở nhẹ một cái, tôi tiếp tục:

“Tớ biết cậu gia nhập CLB Thủ công và cả Ủy ban phụ trách chung vì vui, còn vui chỗ nào thì chắc cả đời tớ cũng không biết… nhưng tớ thực sự ngạc nhiên khi cậu chịu lên chức Phó. Đó là một vị trí không còn chỉ là làm cho vui nữa rồi. Điều gì đã khiến cậu thay đổi thế?”

“Ừm… đúng là như vậy.”

“Thế thì nên chúc mừng hay không đây, mà thôi dẹp đi, ý tớ là chỉ vì cậu bỗng dưng muốn nhận một chức vị đầy trách nhiệm như thế không có nghĩa là tớ phải dây vào những rắc rối mà nó đeo theo. Hay là cậu định nói việc bảo vệ tính công minh trong cuộc bầu cử của trường là nghĩa vụ của bất kỳ một học sinh nào?”

Hắn cười nhạt.

“Làm gì có vụ tớ hách dịch như thế… mười phần trong tớ vẫn đề cao tính chuyên trách.”

“Đúng vậy, nên tớ sẽ vui vẻ tản bộ vào một đêm thế này để nói chuyện với Fukube Satoshi, còn với ngài Phó chủ tịch thì xin phép dừng lại trong phạm vi phòng Hội.”

Satoshi trông chẳng hề nao núng trước đòn phản pháo của tôi, hắn chỉ đáp lại bằng chút gì đó đùa cợt xen lẫn sự cô độc.

“Cậu chẳng bao giờ giữ miệng thật.”

Đúng, tôi thực sự vừa nặng lời với một kẻ đáng phải vậy. Nếu hắn còn chối từ việc tháo lớp mật nạ ra thì tôi chẳng còn cách nào khác ngoài từ chối. Nhưng thôi, hạ màn ở đây được rồi. Liếc hắn, tôi lên tiếng.

“Vậy cậu đang giấu điều gì.”

“Giấu? Ý cậu là sao?”

Chưa cần nói tới câu chuyện về số phiếu bầu nhiều bất thường của Satoshi thì đã có sẵn hai điều không ăn khớp. Thứ nhất thì đã nói: tại sao hắn phải cầu viện tôi? Nhưng cái thứ hai còn căn cơ hơn…

“Đừng giả khờ. Mọi sự vụ từ đầu đến đuôi là trách nhiệm của Ban bầu cử. Nghĩ thử xem… ngay-từ-đầu cậu lẽ ra không hề có bất cứ một mối liên can nào hết thưa ngài Phó chủ tịch.”

Chủ tịch và phó chủ tịch, nếu đúng như Satoshi đề cập, chỉ có nhiệm vụ chứng kiến và xác nhận kết quả kiểm phiếu. Có gian lận phiếu thì đúng là chuyện lớn đấy, nhưng tại sao Satoshi lại là người phải giải quyết? Hắn đã im lặng về điểm này. Satoshi, một người đề cao tính chuyên trách mà lại muốn tự mình giải quyết một âm mưu phá hoại hệ thống bầu cử của trường nhân danh “công lý”… đùa! Cái ảo tưởng rằng hắn muốn thay mặt cả Ủy ban phụ trách mà dẹp loạn dùm cho Ban bầu cử đã được tôi bóp vụn mà quăng vào đống rác cháy được chỉ chờ ngày đến hốt. Ai cũng thay đổi và Satoshi-năm-hai không là ngoại lệ, nhưng cũng chẳ có cái ngoại lệ nào lại gay gắt và gốc rễ đến thế. Khi một kẻ luôn đùa cợt chứ không hề phàn nàn gọi tôi nhờ giúp đỡ thì vấn đề không phải chỉ nằm ở nội dung.

“Tại sao cậu lại giấu lý do muốn tớ giải quyết vụ này.”

Satoshi cười.

“Xem ra tớ không thể thắng cậu nổi.”

Tôi cũng cười.

“Biết vậy thì chắc lúc này cậu đâu có ngạc nhiên phải không?”

“Ừ. Dù tớ đã nghĩ mình có thể giấu nhưng thực tế vẫn quá khó.”

Nhảy vài bước lên trước như đang theo một nhịp điệu rồi quay lại nhìn tôi, hắn vừa bước lùi vừa nói:

“Xin lỗi vì đã không nói hết mọi thứ ngay từ đầu nhé Houtarou, dù tớ là người cần giúp. Tớ không trách cậu bực bội vì đó vốn chả phải là thứ gì đáng giấu… nhưng cậu biết đấy…”

Dù thực sự muốn nói với hắn là biết gì chết liền nhưng tụi tôi đã quen nhau đủ lâu. Nghe có hơi nhảm nhưng… tôi cảm giác là mình biết.

“Chủ tịch Ủy ban phụ trách chung, nói sao cho nhẹ đi nhỉ, không hẳn là tuýp người khiến người khác cảm thấy thoải mái cho lắm.” Satoshi nói, hai tay gác đầu. “Lúc nào cũng ra vẻ quyền uy như kiểu ta đây vương tướng. Cậu hiểu chứ? Thực tình thì tớ chả biết tả sao cho đúng… Cậu ta như kiểu không nói người khác là ‘Đừng có giỡn nữa’ dù họ có chăm chỉ cách mấy thì không yên hay sao ấy, nhưng câu nói ưa thích nhất là: ‘Đừng tự mình quyết định mọi thứ như thế’ và ‘Tự kiếm cách đi’. Tớ được nghe năm lần rồi, chỉ tính hôm nay thôi đấy.”

Tôi biết có hạng người như thế, chỉ là cùng tuổi thì chưa. Nếu đúng là vậy thì đây chính xác là nhân cách tệ số một mà Satoshi phải đối đầu. Hắn tiếp tục:

“Nhưng… cậu nói đúng Houtarou ạ, vụ này chả liên quan gì đến tớ.”

“Nhưng là đến một người khác mà cậu biết phải không?”

“Sắc bén như mọi khi nhỉ.”

Satoshi giơ ngón cái lên.

“Đó là một học sinh năm nhất trong Ban Bầu cử, lớp E. Tớ không nhớ tên, thực ra là có nghe rồi nhưng lại quên. Cậu này rất hiếu động, luôn tươi cười đáp ‘Em làm ngay!’ khi được đàn anh giao làm gì. Tớ không nghĩ mình với cậu chàng hợp nhau nhưng phải nói là cậu chàng luôn cố gắng làm những gì cần làm… thử, ừ, ít nhất thì tớ thấy vậy. Cũng không cao lắm, nhìn như học sinh sơ trung ấy.”

“Tớ hình dung được diễn tiến rồi.”

“Vậy à? Nhưng cứ nghe đã nhé. Vì lý do nào đó, hoặc là quá năng nổ hoặc cả lớp quá đoàn kết nên cậu chàng là người đầu tiên đến nơi nhận phiếu trong phòng Hội học sinh. Sau khi đến đó… và nếu cậu hỏi thì tớ sẽ nói sau tất cả chỉ có Chủ tịch Ủy ban là có lỗi – cậu chàng đã làm sai quy trình.”

Đoạn Satoshi đưa tay về trước làm hành động như cầm một cái hộp vô hình.

“Chắc là cậu biết rồi vì chính cậu cũng bỏ phiếu đúng không? Các học sinh sẽ bỏ phiếu vào hộp của lớp mình. Các hộp sau đó được chuyển đến phòng Hội và, đây là điểm quan trọng nè, mở ra cho hai giám sát viên xác nhận. ‘Cậu bé lớp 1-E’ đã mở hộp trước khi tụi này đến và trải phiếu ra giữa bàn.”

Nghĩ một hồi tôi nói: “Tớ không nghĩ đó là cái gì quá mức…”

“Tớ cũng vậy. Việc của giám sát viên bao gồm xác nhận hộp phiếu là rỗng trước khi được mang đến các lớp và sau khi các lá phiếu được đổ ra để tập hợp lại. Tớ đã xác nhận chiếc hộp ở hai thời điểm đều đã rỗng nên có thể coi là tiến trình vẫn được tuân theo, nhưng ngài Chủ tịch Ủy ban lại một mực bảo là không cách nào chắc được là cậu chàng có tác động đến các lá phiếu khi tụi này chưa tới hay không.”

Ra vậy.

“Chưa nói tới lỗi xử lý, tớ khó mà tin được cậu chàng là người khống phiếu bầu. Ai cũng thấy vậy trừ duy nhất một người. Mọi người khác đều làm đúng quy trình nên coi như không có cơ hội để những phiếu bầu ma lẫn vào, và đó là lý do ngài Chủ tịch của chúng ta không có đối tượng nhục mạ nào khác ngoài cậu bé năm nhất tội nghiệp ấy.”

Khựng lại một quãng Satoshi mới thêm vào.

“Đến mức cậu bé đã khóc.”

Xem ra kể đến đây là đủ… Tóm lại là thế này: Satoshi muốn, và dù không ai yêu cầu nhưng anh chàng vẫn vì một cậu học sinh năm nhất không-nhớ-tên-và-bị-nhục-mạ-quá-đáng-chỉ-vì-một-lỗi-nhỏ, chứng minh là còn có khả năng khác để những phiếu bầu ma len lỏi vào. Đơ mặt, tôi chỉ biết đáp thế này:

“Thề có trời… cậu chả thay đổi gì cả. Luôn làm anh hùng trong bóng tối.”

Hắn cười gượng.

“Cho tớ xin đi. Chỉ là một chút giận giữ mà thôi. Với lại nếu cậu cho phép tớ được kiếm cớ một chút… thì tớ đã không nghĩ rằng mình tuyệt đối phải cần viện trợ bởi tài phán đoán của cậu. Tớ đã tưởng vấn đề này đủ dễ để giải quyết một mình nhưng quả là bé cái lầm. Tiến trình bầu cử của trường ta chặt chẽ đến ngạc nhiên.”

“Chẳng phải tụi mình cũng nói về cái gì từa tựa thế này trong lần đi đêm trước sao?”

“Chuẩn… năm cuối sơ trung nếu tớ nhớ không lầm. Trời ơi nhắc lại chi để mà hoài niệm.”

Tôi nhìn chăm chăm vào Fukube Satoshi. Một cơ thể mảnh khảnh đôi khi trông có vẻ yếu đuối nhưng lại có những biểu cảm toát đầy vẻ tự tin. Đó là Satoshi mà tôi luôn biết. Không quá hiền lành hay dịu nhẹ mà cũng chẳng quá chính trực đến cực đoan, với tôi lúc này, dù không thể hiện trần trụi trên gương mặt, là cái gì đó mạnh mẽ hơn sự căm ghét cái xấu và bất công. Với những thứ mà tôi sẽ tránh né bằng lời nhận xét “Chịu, đời mà” thì hắn vẫn giành cho một cái nhíu mày và âm thầm làm tất cả trong khả năng để sửa chữa. Nhưng thôi, tôi nghĩ mình đã hiểu tại sao hắn lại phải đeo mặt nạ lúc đầu. Với Satoshi xem ra việc giúp cuộc bầu cử Hội trưởng Hội học sinh Cao trung Kamiyama chỉ là thứ phụ so với việc cần giúp đỡ để cho ngài Chủ tịch một bài học vì dám đối xử tệ với đàn em.

Phần nào đó trong tôi vẫn bực mà tự hỏi sao không nói thẳng ngay từ đầu…

Một cơn gió lại thổi qua.


3.[sửa | sửa mã nguồn]

Con đường dọc bờ sông bấy giờ đã chạm hàng rào gỗ bao quanh một ngôi nhà mà bẻ ngoặt một góc vuông hoàn hảo. Tiếp tục đi, chúng tôi hướng về một cái ngã ba nhỏ. Đường hai bên trái phải bắt đầu có vạch kẻ và đèn thắp sáng. Tôi không còn thường đi đến tận đây, nhưng nếu trí nhớ còn tốt thì quẹo phải mà băng qua hết khu dân cư ta sẽ đến Sơ trung Kaburaya – trường cũ của tôi, còn đi về bên trái thì sẽ vào trung tâm thành phố.

Dừng lại, Satoshi nhìn tôi thay cho lời hỏi nên đi đường nào. Tối thế này mà la cà gần mấy khu ăn chơi trong thành phố lỡ xui gặp ai đó thì mệt, nhưng một phần trong tôi ngần ngại khi nghĩ về ngôi trường xưa. Có lẽ tốt nhất là đi bên trái, rồi quẹo đường khác trước khi vào tới nơi không nên vào. Không nói gì, Satoshi chỉ lẳng lặng theo sau.

“Vậy,” tôi nói, lại là người phải khai cuộc. “Theo cậu thì không có khả năng kẻ gian khống phiếu nhỉ.”

Tự nhiên hắn chỉ cười rồi thì thầm “Thực sự xin lỗi” trước khi trở lại tông bình thường.

“Đúng thế! Suy nghĩ muốn nát óc mà chả tìm được cái lỗ nào. Dù gì thì quy trình cũng đã ra đời và ổn định trong một thời gian dài. Nếu phải nói thì… không phải là tớ không nghĩ có một khả năng, nhưng tớ cảm giác là cứ đi theo hướng thông thường thì sẽ gặp ngõ cụt.”

Muốn hỏi hắn chi tiết hơn tại sao lại là ngõ cụt thì tôi chợt nhận ra: mình thậm chí còn chả biết quy trình bầu cử nó ra thế nào thì làm sao mà hiểu. Tốt nhất là cần lời giải thích.

“Phiền cậu, tua lại từ đầu.”

“OK. Từ đâu là được ta…” Nói xong Satoshi khoanh tay lại và khẽ nghiêng đầu.

“Được rồi. Đầu tiên cần phải nhớ là các hộp phiếu đều có khóa, và như đã nói hồi nãy mọi chiếc hộp đều phải được bên thứ ba – tức là tụi này – xác nhận là trống thì mới được mang tới các lớp để nhận phiếu và sẽ được xác nhận một lần nữa ngay trước khi  Ban bầu cử tiến hành đếm.”

“Hộp khóa rồi nhưng vẫn bỏ phiếu được phải không?"

“Cậu cứ đùa. Nó chắc chắn phải được khóa trong thời gian bỏ phiếu.”

Biết rồi. Hỏi cho chắc thôi.

“Ban Bầu cử có nhiệm vụ lấy hộp phiếu từ trong kho rồi mang tới phòng Hội học sinh sau giờ tan học hôm qua. Nhà kho nằm ở tần một khu Chuyên biệt nên chắc cậu biết tớ đang nói cái nào, chứa chổi giẻ các kiểu. Cũng trong ngày hôm qua phiếu bầu đã được buộc thun thành từng cọc giành cho từng lớp. Khi hộp đã được chuyển vào phòng Hội thì toàn bộ Ban bầu cử và Ban giám sát sẽ tập hợp lại, và các thành viên Ban bầu cử sẽ tự phân phối hộp và phiếu về mình. Chỗ này chắc cậu nhận ra. Mỗi lớp sẽ có hai học sinh nằm trong Ban bầu cử - một nam một nữ. Nói cách khác lúc đó trong phòng hội có hai người nhân tám lớp nhân ba khối là bốn mươi tám, cộng hai người giám sát cả thảy tròn năm chục, nhồi như là cá hộp.”

“Nghe có vẻ nóng.”

"Ừ. Mỗi người sau khi nhận hộp sẽ được tụi tớ xác nhận là rỗng rồi mới khóa lại. Phải tới khi tất cả hộp đều được khóa thì Chủ tịch Ủy ban phụ trách chung mới cho mọi người trở lại phòng học.”

Dĩ nhiên tôi đã thấy cả hộp lẫn phiếu bầu. Hộp làm bằng gỗ đã sờn và có màu hổ phách nhưng trông vẫn rất bền, hai bên đề chữ “Hộp phiếu”. Phiếu bầu thì có lẽ được cắt từ giấy in thông thường… tờ tôi cần hôm nay thậm chí còn không được cắt thẳng. Trên phiếu có dấu mộc của Ban bầu cử còn ngoài ra không có số hay gì khác để phân biệt.

“Tiến trình bầu cử tính từ khi chiếc hộp vào trong lớp thì cậu biết rồi đúng không?" Satoshi hỏi.

"Ờ.”

Trong phòng học, hai thành viên Ban bầu cử của mỗi lớp đặt hộp phiếu lên bục giảng rồi viết tên các ứng viên lên bảng trước khi phát phiếu bầu. Sau khi mỗi học sinh hoàn thành lựa chọn của mình – là điền tên một trong các ứng viên hoặc không viết gì cả - họ xếp hàng bước về bục rồi thả phiếu vào trong hộp. Mỗi lần như vậy một trong hai người sẽ đánh dấu lại nhằm đếm tổng số phiếu được sử dụng.

Thực sự chẳng muốn ngắt lời Satoshi nhưng tôi cần hỏi thêm cho chắc.

“Vậy hai người đó có phải xét đến số học sinh vắng không?"

Lắc đầu, Satoshi đáp: “Theo như tớ biết thì không. Chỉ có tổng số học sinh và tổng số phiếu bầu là được quan tâm.”

Hiểu rồi. Quả thật những học sinh vắng mặt không ảnh hưởng lắm tới công việc của họ.

“Luật quy định thời gian bầu cử tối đa là ba mươi phút, sau đó tất cả hộp phiếu phải được tập hợp về phòng Hội. Trên thực tế hầu hết các lớp đều triển khai nhanh gọn hơn nhiều. Dù gì thì cũng là giờ tan học nên ai chả muốn xong sớm mà xách cặp đi về. Việc mang hộp đến sớm thì không đúng luật lắm nhưng truyền thống nó thế rồi.”

Có khi vậy lại hay, chứ nếu tất cả các hộp đuowjc mang đến cùng lúc thì mới làm chậm tiến trình ấy chứ.

“Thế là hai thành viên Ban bầu cử mỗi lớp lần lượt mang hộp về phòng và đánh dấu vào tên lớp mình trên danh sách để xác nhận. Người giữ chìa sau đó mở hộp và trút hết phiếu ra bàn. Những cái bàn được xếp thành hình chữ thập để phục vụ công tác đếm phiếu. Sáng mai mới phải trả hộp về nhà kho nên không có gì phải vội. Những chiếc hộp được giám sát viên xác nhận đã trống được xếp vào một góc. Khi phiếu bầu của tất cả các lớp được trút hết lên bàn chúng sẽ được trộn vào nhau để không ai biết phiếu nào thuộc lớp nào, sau đó chia ra thành cỡ mười phần cho những người được chỉ định đếm phiếu. Người đếm lần lượt mở từng phiếu rồi thả vào một trong ba khay để tên “Haruto Obata”, “Seiichirou Tsunemitsu” và “Phiếu trắng”. Công đoạn này được thực hiện rất nhanh. Các phiếu bầu trên khay được gói lại thành từng cọc hai chục mà giao cho một người đếm khác để kiểm tra xem con số đếm được đúng hay chưa. Sau khi mỗi phiếu bầu được kiểm tra hai lần như thế thì hai giám sát viên cũng sẽ xác nhận.”

“Nghe khá là chặt chẽ.”

“Đúng vậy phải không?"

Chả hiểu sao hắn lại đầy tự hào đến thế, khi mà chỉ cách vài phút trước hắn còn ừ rằng mình chả dây mơ rễ má nào tới chuyện của Ban Bầu cử.

“Sau đó tụi này ghi con số chính thức lên bảng. Từ đầu chí cuối mất cỡ bốn chục phút, và ngay trước khi công bố tên người thắng cuộc thì có người chỉ ra sự bất thường trong các con số. Sau đó chỉ là bầu hỗn loạn.”

Tôi nghĩ mình nghe thấy tiếng gầm gừ của động cơ thì bất thình lình một chiếc xe hơi thể thao phóng ngang qua hai thằng trên mặt đường khiêm tốn. Satoshi quắc mắt nhìn cho tới khi hai lốp sau đánh cua nghe một tiếng réc thì thở một cái thượt.

“Những gì tớ vừa nói là y như cảnh đã thực sự diễn ra. Có quá nhiều người theo dõi cuộc kiểm và đếm phiếu nên dường như chẳng thể có tác động bên ngoài mà không gây chú ý. Những lá phiếu ma chắc chắn không phải được thêm vào lúc đó… như vậy khả năng duy nhất là nó đã có sẵn trong những chiếc hộp phải không?"

“Đúng là vậy, nhưng…”

“Nhưng sao? Với thêm nữa nè, có tầm bốn mươi ba tới bốn mươi bốn học sinh trong một lớp ở Cao trung Kamiyama này và số lượng phiếu bầu ma là bốn chục. Nếu kẻ khống phiếu chỉ bỏ thêm phiếu vào một thùng thì số lượng phiếu trong thùng đó gần như là gấp đôi. Dĩ nhiên chả ai chỉ nhìn mà biết được số phiếu trút ra từ hộp cả, nhưng nếu chúng nhiều gấp đôi bình thường thì phải có người thấy lạ phải không?"

Đồng ý. Vậy số lượng thấp hơn mức gấp đôi thì thế nào nhỉ? Xét đến việc Satoshi đã băn khoăn suốt từ lúc tan học tới giờ thì hẳn là hắn đã nghĩ tới rồi.

“Bỏ qua khả năng tất cả phiếu ma được tập trung trong một hộp, như vậy nếu chúng được chia ra cho hai lớp thì sao? Có lẽ vẫn đủ nhiều để nhận ra. Ba lớp thì hên xui, nhưng nếu là mười lớp thì tính ra mỗi hộp chỉ dôi ra bốn phiếu và chắc chắn qua mặt được mọi người.”

"Đúng là như thế, nhưng câu hỏi là làm sao kẻ đó tìm ra cơ hội để khống phiếu vào tận mười chiếc hộp.”

“Ừ.” Satoshi gật đầu, rồi tỏ ra chán nản khi bồi thêm một câu: “Thực lòng mà nói tớ khá chắc chắn thủ phạm nằm trong Ban Bầu cử.”

“Tưởng cậu muốn giúp đỡ cậu bé năm nhất ấy chứ.”

“Ngoại trừ nó ra. Tớ không tin cậu chàng là thủ phạm. Chỉ là Ban bầu cử là những người duy nhất có đụng tới thùng phiếu.”

Điều đó không sai, Ban bầu cử thực tình là có cơ hội để bỏ thêm phiếu vào thùng, nhưng…

“Vậy Satoshi, theo như giả thuyết của cậu thì một nhóm người trong Ban bầu cử đã móc ngoặc nhau để mà thêm chút phiếu vào hộp của mình phải không? Đó là một khả năng tớ công nhận, nhưng cậu thực sự tin là vậy sao?"

“Đó là lý do tớ bảo cứ đi theo hướng bình thường thì sẽ gặp ngõ cụt đấy. Một hai người thì còn được, chứ chín mười người hợp sức thì khó tin quá.”

Vỗ hai tay vào nhau, Satoshi tiếp tục:

“Đây chính là khúc tớ coi như ngừng lại. Không có gì chắc chắn là một mánh lới nào được sử dụng, nhưng nếu chấp nhận là có thì tớ phải tìm cho ra vì không thể để bóng ma này tồn tại trong Ban bầu cử được. Còn nếu không chấp nhận ư? Thì khỏi còn đường nào hết. Sáng mai là hạn chót nhưng nội trong tối nay tớ muốn bắt đầu lại từ gốc và phân tích thật cặn kẽ. Dĩ nhiên người có thể cầu viện ngoài Houtarou ra thì còn ai?"


4.[sửa | sửa mã nguồn]

Ánh đèn đỏ chiếu sáng phần không gian trước mặt hai thằng. Satoshi và tôi dừng lại cùng một lúc. Cuộc hội thoại cũng bị cắt ngang do mắt như bị mê hoặc bởi thứ ánh sáng ấm áp ấy. Là tưởng tượng hay thực sự có cái gì lạ lẫm vừa trộn vào từng cơn gió? Satoshi đột nhiên lên tiếng, dù mắt vẫn nhìn về hướng ánh đèn và đầu không quay lấy một khấc.

“Cậu đói không?"

Lúc này tôi đã nhìn chằm chằm với chiếc lồng đèn giấy màu đỏ với hàng chữ đen “Ramen”.

Còn quá xa trung tâm thành phố nên chắc đây không phải là bẫy đâu nhỉ. Hỡi hai đứa bé ngoan, chạy về nhà và leo lên giường để có những giấc mơ đẹp đi, vì đêm ở thành phố Kamiyama không có gì khác ngoài nỗi kinh hoàng!

“Chúng ta không nên bán mình cho ác quỷ.”

“Đúng vậy… ác quỷ không ngon lành tí nào.”

Ba phút sau hai thằng đã vai kề vai ngồi trước một cái quầy hẹp. Trên menu có mì xá xíu, mì ramen hoành thánh, sủi cảo và cơm thịt bò. Tôi gọi ramen thường sau khi nói “Tớ đã không có một bữa tối bình thường cho lắm”, còn Satoshi chọn ramen hoành thánh cùng một tô cơm. Chủ quán có bộ ngực nở và mặt rỗ như tờ giấy mài cũng một chiếc khăn vắt qua cổ, ngay khi được gọi món ông liền trả lời bằng chất giọng như bùng phát từ dưới đáy dạ dày: “Có ngay!”

Hương dầu lan tỏa khắp của tiệm nhỏ, khiến lớp giấy dán tường có lẽ đã từng trắng tinh ngả sang màu ố vàng chứ không phải là kết quả của sự lười biếng trong lau dọn. Trước chúng tôi thực ra còn một người khách nữa nhưng ông đã đi ra khi chúng tôi bước vào nên quán vỏn vẹn chỉ hai thằng. Làm một ngụm nước lạnh, tôi chợt thở một cái khẽ. Tản bộ trong tiết trời nóng và trên một nền đất ẩm nhưng phải tới lúc này tôi mới nhận ra mình khát đến thế nào.

“Cậu tới đây lần nào rồi à Houtarou?" Satoshi nãy giờ bận giỡn với cái hũ tiêu vì không có gì để làm tự dưng hỏi.

“Không. Còn cậu?"

“Không. Đây là lần đầu ấy. Hổng dè lại có cái quán như vầy ở mãi đây… cơ mà vì thấy cậu tự tin mà vào nên tớ cứ tưởng cậu là khách quen.”

“Tại cậu đề xuất vào đây quá nhanh nên tớ tưởng cậu mới là khách quen cơ chứ.”

Có lẽ nghe được đoạn hội thoại, ông chủ tiệm liền trấn an: “Thôi nào, ta đảm bảo hai đứa sẽ không hối hận đâu.”

Khi tôi bắt đầu lơ đễnh mà chỉ chú ý tới âm thanh ù ù phát ra từ quạt thông gió gắn trên quầy, Satoshi bắt đầu làu bàu:

“Tớ thật chả quan tâm là ai… nhưng tại sao hắn lại làm thế.”

“Ai biết.”

“Vốn Hội trưởng Hội học sinh nghe oách vậy chứ có làm gì nhiều đâu? Khi trường tổ chức cái gì thì lên nói vài câu. Nếu hắn bực bội về nội quy trường nên quyết định trút giận vào cuộc bầu cử đi thì ok tớ hiểu, nhưng làm ra thế này thì hắn hy vọng thay đỏi được cái gì?"

Cách duy nhất là chỉ mặt khảo cung đương sự mà thôi, đó là nếu được…

“Nếu chấp nhận đoán mò thì tớ có vài cái đây.” Tôi nói.

“Tớ sẽ nghe.”

“Hắn cuồng bầu cử, nên muốn làm lần nữa cho đã.”

“Hấp dẫn đấy.”

“Hắn ghét bầu cử, nên muốn thấy nó sụp đổ.”

“Ra thế.”

“Với hắn chế độ học sinh cai trị học sinh này là trò hề, nên muốn thay mặt toàn thể học sinh tuyên chiến với Hội học sinh.”

“Khủng bố cơ à?"

"Ứng viên hắn ủng hộ chưa chuẩn bị tinh thần cho đợt này, nên hắn muốn trì hoãn.”

“Hạn chót đăng ký ứng viên qua lâu rồi, không thể đâu.”

“Trưởng Ban bầu cử thấy ghét, nên hắn muốn cậu ấy bị một phen xanh mặt.”

Satoshi khúc khích.

“Điểm đáng sợ ở đây là tớ không thể bác bỏ nó. Xem ra chúng ta khó mà biết được động cơ của hắn nhỉ, dù cái khủng bố nghe cũng mê hoặc lắm.”

“Cậu nói tớ mới để ý, có thể là về tình cảm nữa.”

Chủ quán lấy một khúc xá xíu được buộc chặt từ tủ lạnh, to đến mức đáng ngạc nhiên nếu xét về quy mô quán. Rút con dao làm bếp ra, ông nói với chúng tôi: “Ưu ái đặc biệt cho học sinh đó!” Xem ra là được cho thêm đồ ăn rồi, háo hức quá.

Rồi tôi quyết định hỏi điều đang nghĩ trong đầu:

“Cậu bảo Ban bầu cử có cả thảy bốn mươi tám người phải không?"

Đặt lại hũ tiêu lên kệ, Satoshi chống cằm mà đáp: “Ừ. Ba khối mỗi khối tám lớp, mỗi lớp hai người.”

“Và cậu cũng bảo là chỉ có mười người lo việc đếm phiếu.”

Xoay ghế lại để đối mặt tôi, hắn nói:

“Với mười người thì mỗi người cũng chưa đến một trăm phiếu nên chả cực nhọc gì. Quy trình đếm và kiểm phiếu cần không gian rộng, nếu cả hội bu vào thì chắc phải cần cả cái nhà thi đấu.”

“Người đếm phiếu được chọn như thế nào?"

“Ưm…” Khoanh tay lại Satoshi lẩm bẩm: “Trong bốn mươi tám thành viên thì hết một nửa làm nhiệm vụ mang thùng đi đến lớp rồi mang về phòng Hội khi bầu xong. Khi phiếu được trút ra khỏi thùng thì coi như họ xong việc và hầu hết là đi về.”

“Không ở lại coi à?"

“Có vài người và cậu năm nhất lớp 1-E là một trong số đó. Dù sao thì chả ai bắt ở lại cả.”

“Cậu có bảo có người lo việc giữ chìa khóa và phân phối thùng phiếu phải không?"

“Hai người lo vụ đó, khiêm việc phân phối phiếu bầu luôn.”

"Ngay từ đầu những cái thùng có được chỉ định cho lớp nào khối nào không?"

“Không, cứ ai xếp hàng trước thì lấy trước thôi. Chỉ có mấy cọc phiếu là phân định. Người lấy phiếu thông báo khối và lớp sau đó được nhận cọc phiếu của lớp mình.”

Ở Cao trung Kamiyama mỗi lớp có xấp xỉ bốn ba tới bốn bốn học sinh, nhưng con số này dĩ nhiên không mang tính phổ quát. Thừa hay thiếu phiếu bầu đều sẽ dẫn tới phiền phức nên có lẽ Ban bầu cử đã dựa trên số học sinh cụ thể mà làm cọc phiếu riêng cho từng lớp. Theo lẽ thường số phiếu được bầu sẽ ít hơn vì không tránh khỏi việc có học sinh vắng hay về sớm, và nó chả liên quan gì đến việc những lá phiếu ma khiến tổng số phiếu bầu vượt trên cả tổng số học sinh.

“Người phân phối phiếu bầu có khiêm luôn vụ làm phiếu không?"

Satoshi nghiêng đầu suy nghĩ.

“Tớ dù gì cũng chỉ là giám sát viên nên không rõ về mọi thứ, nhưng có lẽ không thể giao việc cắt cả ngàn lá phiếu cho một người được. Tớ đoán có một nhóm sẽ chia nhau ra, người lo cắt người lo đóng mộc của Ban bầu cử lên phiếu.”

“Và những lá phiếu ma cũng được đóng dấu.”

“Đúng vậy. Thì như tớ đã bảo dễ thó cái con dấu lắm.”

Vấn đề suy nhất khiến mọi việc trở nên đau đầu cũng chính nằm ở chỗ này. Nếu không có dấu mộc thì số phiếu ma đó đã dễ dàng được loại ra. Xem ra những lá phiếu đó đã được chuẩn bị từ trước, có lẽ tôi nên đặt mình vào vị trí thủ phạm để suy nghĩ xem…

Điều Satoshi muốn biết, để giải oan cho cậu học sinh lớp 1-E mà chính mình không nhớ nổi tên, không phải là chân tướng của thủ phạm. Hắn muốn biết bằng cách nào những lá phiếu ma được trộn vào chồng phiếu hợp lệ. Dĩ nhiên trường hợp lý tưởng vẫn là tìm ra ai đã làm, nhưng danh sách tình nghi không có và nhân lực đủ số lượng lẫn thẩm quyền để rà soát lại càng không. Có lẽ suy nghĩ của hắn là đúng đắn, tôi không nên cố làm điều không thể.

“Người giữ chìa khóa có những nhiệm vụ gì?"

“Chìa chỉ có một cái nên một người giữ thôi. Cậu ấy khóa tất cả hai mươi bốn chiếc thùng trước khi chúng được mang đến lớp và mở ra khi đã hội đủ trong phòng Hội.”

“Cũng thoải mái nhỉ.”

“Ừ, nghe có vẻ hợp với Houtarou nhỉ.”

Phải vậy không đấy? Loại việc như thế này bắt người ta phải ngồi chờ trong một thời gian dài vì chả có gì để làm, nhưng những hành động ít ỏi của mình lại gánh vác những trách nhiệm không hề nhỏ - nghe như một cách phí phạm năng lượng kỳ cục nhỉ. Dẹp.

"Như vậy, trong bốn mươi tám thành viên Ban bầu cử thì hai mươi bốn lo việc bưng thùng, hai người phân phối thùng, một người giữ chìa và mười người đếm phiếu.”

“Ngoài ra còn có một Trưởng và hai Phó Ban, cùng hai người viết bảng nữa.”

“Vậy còn sáu người không có nhiệm vụ gì hết.”

“Vài người lo việc vặt và lau dọn, ừ thì đúng là chả liên quan gì hết.”

Satoshi rướn lại gần tôi.

“Như vậy chúng ta đã thống kê được công việc của bốn mươi tám thành viên. Một hướng đi hứa hẹn đây.”

“Chả biết được. Có khi lại là ngõ cụt, nhưng nãy giờ thông tin cậu cung cấp vừa chứng tỏ tác dụng rõ rệt đó.”

“Ố ồ! Ở chỗ nào?"

Trước mặt tôi lúc này là một tô mì ramen ngào ngạt hương thơm của xì dầu. Sợi mì mỏng và gợn sóng lềnh bềnh giữa lòng nước canh tối thẫm. Hai miếng xá xíu, hai lát măng tre, và ở giữa là một túm hào phóng rau chân vịt xanh mướt trần sơ.

“Một tô ramen cho quý khách!”

Tôi lấy một đôi đũa-dùng-một-lần rồi tách đôi ra đầy hoàn hảo. Nhìn xuống hai cây đũa với cạnh không chút vết thừa thiếu nào, tôi nói:

“Nạp năng lượng cái đã.”

“Ăn trước đi. Khỏi phải đợi tớ.”

“Định vậy mà.”

Cám ơn nhiều nhé.

Người chủ quán quả là chẳng hề đùa khi ông nói chúng tôi sẽ không hối hận vì đã tới đây. Thực chất không có gì đặc biệt so với các món ramen dùng nước canh xì dầu cả, nếu có thì chỉ là hơi mặn, nhưng chính cái mặn đó lại giúp món ăn trở nên thỏa mãn như vậy. Tôi cũng chưa từng ăn mì với rau chân vịt, nhưng chỉ một miếng đã khiến tôi tự hỏi tại sao trước đây chả ai khác thử làm như thế này. Thêm cái nữa – cái này thì chả biết tốt hay là xấu – nước canh được đun nóng đến độ gần như là sôi. Ngay khi món ramen hoành thánh của Satoshi được bưng ra cũng là lúc tôi buộc miệng kêu lên: “A! nóng quá.”

“Uầy, đúng thật!” Satoshi cay đắng đồng tình khi những sợi mì mới chạm vào môi. Nhanh chóng hắn chén hết nửa tô, rồi dừng đũa mà nhòm trộm qua như thể dò xem tốc độ của tôi nhanh cỡ nào…

“Mà nè, có vụ này không liên quan lắm, nhưng…”

Mì quá ngon… Cứ như chưa lần nào tôi tận hưởng một tô ramen trọn vẹn như lúc này cả. Không chỉ ở mùi vị, mà cả từng sợi mì…

“Cậu có nghe không đấy?"

“Có.”

“Hoành thánh ở đây phải nói là tuyệt hảo.”

“Thế thì cho miếng đi.”

“Mơ đi. Cơ mà nghe nè, Chitanda đã từng nói về việc ứng cử cho chức Hội trưởng Hội học sinh đó.”

Đôi đũa của tôi khựng lại trong chốc lát.

“Cái này mới.”

Satoshi thổi miếng hoành thánh vài lần cho nguội trước khi tọng hết cả vào họng.

“Tớ đoán cậu ấy cũng khá là nổi tiếng hồi còn học tại Sơ trung Inji. Dù gì cũng là tiểu thư một gia tộc lớn ở Jinde mà. Điểm cao này, dễ gần nữa này. Nghe đồn cả giáo viên chủ nhiệm cũng hy vọng cậu ấy sẽ tự ứng cử. Nổi từ cái hồi lên đài phát thanh dịp Lễ hội văn hóa rồi và lại càng nổi hơn sau khi tin tức và hình ảnh từ Lê hội Búp bê sống đến tai mọi người trong trường. Duy chỉ hoạt động CLB thì cậu ấy còn hơi khiêm tốn.”

Đúng là làm Hội trưởng CLB Cổ điển chả giúp ích gì mấy.

“Tớ chẳng nói là mình hiểu mọi thứ về cậu ấy…”

Tôi gắp một đũa đầy mì mà đặt tạm lên thành tô để làm nguội.

“… nhưng tớ không nghĩ là Chitanda thuộc tuýp người có thể cáng đáng nổi những việc Hội trưởng Hội học sinh cần làm, nói thẳng là vậy.”

“Đúng. Khi đó Mayaka là người lèo lái vụ làm tập san, nhưng thế cũng không có nghĩa là Chitanda kém. Với một số người thì lãnh đạo chỉ cần là người được lòng nhiều người nhất. Thế thôi. Tất cả những gì cần làm và ủng hộ và hỗ trợ những ý tưởng hay của các thành viên còn lại.”

Nghe như vật để trưng trong đền thờ thế? Ban đầu khi nghe Satoshi gọi Hội trưởng Hội học sinh là một chức vụ mang tính hình ảnh là chính tôi đã nghĩ hắn giỡn, nhưng xét cho cùng việc một Chủ tịch Ủy ban phục trách chung có thể hống hách như thế nào thì xem ra đó là sự thật.

“Nhưng rồi cậu ấy cũng không ứng cử.”

“Ừ, như cậu nói đó Houtarou. Có lẽ chính Chitanda cũng không cảm thấy mình là người phù hợp. Dường như cậu ấy chỉ cảm thấy hứng thú về việc ứng cử vào Hội học sinh sẽ là điều tốt cho sau này.”

“Tốt cho sau này… kiểu như làm đẹp lý lịch ấy à?”

Từng có những lời đồn về việc làm Hội trưởng Hội học sinh khiến việc xin vào Đại học mình mong muốn dễ dàng hơn. Dù vậy tôi vẫn khó mà hiểu nổi tại sao nhỏ phải đi ứng cử trong khi tâm trí lúc này hẳn là chỉ toàn tâm cho kỳ thi.

Cười khúc khích, Satoshi ngoe nguẩy hai bàn tay.

“Có lẽ không.”

“Ừ.”

“Tớ nghĩ việc đại diện cho một tập thể như Cao trung Kamiyama sẽ giúp ích khi cậu ấy thừa kế cơ ngơi của gia đình.”

Mì đã hết. Thực sự muốn bê tô lên để húp nước nhưng vẫn còn nóng quá, tôi đành bâng quơ nhìn sang ông chủ tiệm đang rửa bát và một cái ấm nước đang sôi.

Thừa kế à? Thế giới của Chitanda đúng là khác xa những gì thông thường. Dù bản thân đã được chứng kiến những sự kiện bao quanh nhỏ nhưng đến tận bây giờ tôi nghĩ mình vẫn chưa nắm bắt được hết, và mỗi lúc cố gắng là một dịp tôi tự trầm trồ với bản thân rằng – “Một chuyện như vậy vẫn còn trong thời này ngày nay hay sao?”

Với Chitanda, hai chữ “thừa kế” chính là thực tế của nhỏ.

“Ờ…” Satoshi thầm thì trước khi nuốt thêm một đũa mì. “Tớ thì chả biết mình sẽ làm gì.”

Sau một hồi thất bại với việc bê cái tô lên vì cả sức nặng lẫn nhiệt độ của nó tôi chợt nhận ra sự tồn tại của vài chiếc thìa bên cạnh hũ tiêu. Liền lập tức tôi lấy một cái mà múc một muỗng nước đầy.

“Luật sư thì sao?”

“Luật sư á?”

Satoshi hớt hải la lên như thể ai đó vừa xì với hắn về một sinh vật huyền bí đang sống gần đây.

“Haha, cậu có cái ý tưởng này hồi nào vậy?”

Quán này có vẻ được đấy. Lần sau chắc chắn phải thử món mì hoành thánh của Satoshi. Nghĩ vậy tôi nhận ra muỗng nước được múc lên quá đầy, bèn lắc qua lắc lại chút cho vơi bớt.

“Vì cậu là anh hùng thầm lặng.”

“Nên cậu nghĩ là…”

“Hai chữ ‘luật sư’ là thứ đầu tiên tớ nghĩ đến. Nếu không phải thì… làm sát thủ cũng được nhỉ? Săn đầu phường gian ác với chỉ một phát đạn giữa màn đêm tăm tối.”

“Ha… ha…”

Cười cay đắng, Satoshi lại trở về tô mì. Chúng tôi ăn với tốc độ xấp xỉ nhau, nhưng vì hắn gọi thêm cơm nên có lẽ phải ngồi thêm một lúc nữa.

Hai người đàn ông mặc vest mặt đỏ gắc bước vào tiệm vốn chỉ có chúng tôi, khiến ông chủ liền gọi chào: “Xin mời quý khách!” Có lẽ đã say khước nên họ gọi món mà như quát:

“Hai tô ramen!”

“Và hai lít! Có đồ nhắm không?”

Tôi có cảm giác mình nghe thấy Satoshi lẩm bẩm gì đó giữa sự ồn ào bất ngờ trong quán.

“Hổng dè gặp vụ này… vui đấy.”

Có khi nào tôi đã vô tình khai sinh một sát thủ mới cho thành phố này không nhỉ.


5.[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ gió ẩm của một đêm tháng Sáu lướt qua khi chúng tôi rời tiệm, mà khẽ đung đưa chiếc lồng đèn giấy đỏ. Khi nãy Satoshi muốn trả luôn phần tôi mà nói là phí tư vấn nhưng tôi đã kịp cản. “Phí tư vấn”… các bạn tin được không? Cái thằng! Chỉ cái điểm này là làm tôi phát bực… nhưng cũng may là tôi đã thủ sẵn tiền đề phòng cho dịp này.

Những đồng tiền trong túi áo va lách cách vào nhau theo mỗi bước chân đi. Satoshi nhìn quanh quất rồi dòm xuống đồng hồ.

“Cũng trễ rồi nhỉ, có lẽ tụi mình nên về. Xin lỗi vì giữ chân cậu lâu quá nhé.”

“Không sao. Dù gì thì về nhà cũng chỉ rửa hết mớ chén và lau cọ cái phòng tắm.”

“Cậu giận phải không?”

“Không hề, cơ mà đi chung với tớ được không? Về một mình sợ lắm.”

Lời nói đùa này hóa ra lại rất hợp với hắn. Tháng tư rồi Satoshi vì vài cơ duyên trời đánh mà đã đến nhà tôi, sau đó thì chả còn dịp nào khác. Vậy nên tôi đồ rằng hắn khó mà nhớ được chính xác con đường nhưng phương hướng thì có lẽ.

“OK. Đi thì đi.” Nói xong hắn đi trước cả tôi.

Xem ra từ nhà tôi tới quán mì chỉ cách nhau một con đường thẳng tắp. Dãy đèn đường buông những vầng sáng rực rỡ của mùa đông vào tâm trí tự dưng khiến tôi nhớ về những ký ức mùa hạ. Một xe cảnh sát nhỏ chạy trên con đường vắng làm tôi chột dạ, nhưng chủ nhân nó đã quyết định đi qua chứ không dừng lại để rầy chúng tôi giờ này làm gì ngoài đường.

“Tớ đang nghĩ là,” tôi bắt đầu nói, “Dù cố tưởng tượng ra cách để ai đó tuồng vào những lá phiếu ma thì rồi cũng đi vào ngõ cụt. Hộp được kiểm tra ngay trước khi tiến hành bỏ phiếu nên không có chuyện phiếu được bỏ sẵn từ trước. Đồng thời bốn mươi lá phiếu ma sẽ dễ dàng bị phát hiện nếu chỉ phân bố trong một hộp, nhưng mười thì lại gần như bất khả thi.”

Dù tôi không khác gì lặp lại những lời than thở của Satoshi, hắn gật đầu đầy sốt sắng.

“Chính xác. Tớ không thể nghĩ ra thêm cách nào.”

“Vậy thì tụi mình phải đổi hướng tiếp cận.”

Những phiếu bầu ma vượt quá số lượng học sinh đến từ đâu?

Chúng len lỏi vào những lá phiếu hợp lệ vào lúc nào?

Đột nhiên Satoshi buộc miệng, “Hay là…”

“Cái này chỉ là đoán thôi, nhưng nếu những lá phiếu ma đã nằm sẵn trên bàn thì sao?”

“Hả?”

Thật đau lòng khi giả thuyết của tôi sẽ bác bỏ ý tưởng mới của hắn.

“Không, không thể,” hắn tiếp tục. “Trừ phi trên mấy cái bàn không thể lộ thiên hơn ấy là những lá phiếu vô hình.”

“Phiếu vô hình thì hơi khó, nhưng người vô hình thì sao?”

"Cậu có giận nếu tớ hỏi cậu đang nói cái quái gì không?”

“Không.”

Đường về nhà cắt qua mặt tiền một trạm xăng bỏ hoang. Diện mạo tiêu điều cùng sự hoang vắng như ám vào những cấu trúc bê tông mà làm toát lên thứ cảm giác không dễ chịu cho lắm.

“Từ những gì tớ nghe về tiến trình bầu cử thì có hai lỗ hổng. Nếu lợi dụng thành công thì dám chắc là cả tớ cũng có thể khống một mớ phiếu.”

Cứ ngỡ Satoshi sẽ lập tức đáp lại nhưng hắn im như phỗng. Không muốn ngắt lời tôi chăng? Sao cũng được, tôi cứ tiếp tục:

“Thứ nhất là sự xác nhận của những thành viên Ban bầu cử khi họ mang hộp phiếu trở lại phòng Hội. Ừ thì sau đó phiếu sẽ được trút hết ra và hộp phiếu sẽ được xác nhận là trống trước mặt nhiều người, tuy nhiên việc xác nhận ‘khối mấy lớp mấy’ của người mang hộp lại không minh bạch như vậy. Nếu đúng như cậu nói thì công đoạn đó chỉ được thực hiện một chiều.”

Satoshi đã xác nhận, là hai thành viên Ban bầu cử mỗi lớp lần lượt mang hộp về phòng và đánh dấu vào tên lớp mình trên danh sách để xác nhận.

“Tờ giấy dùng để xác nhận chắc là kiểu một danh sách tên các lớp với khung để đánh dấu vào phải không? Dù cùng trong một Ban đấy nhưng tớ ngờ rằng mọi thành viên đều nhớ hết mặt nhau. Ví dụ như nếu tớ thay mặt đại diện của lớp 2-A mà mang hộp phiếu tới phòng Hội rồi đánh dấu thì chắc cũng chả ai thấy lạ.”

Âm thanh khe khẽ của Satoshi như mắc lại trong cổ họng.

“Có lẽ cậu nói đúng đó Houtarou… Ừ, chả một ai xác nhận được việc người lấy hộp đi và mang hộp về là một cả.”

“Nhưng tất nhiên phiếu bầu mới là cái quan trọng. Thành thật mà nói người mang hộp đi và về là ai cũng không quan trọng. Điều này không ảnh hưởng tới kết quả bầu cử. Cái danh sách lớp đó cũng chỉ mang mục đích đảm bảo mọi lớp đều đã mang hộp về.”

“Hoàn toàn đúng,” Satoshi gật gù mà trầm tư suy nghĩ. “Vấn đề nằm ở những lá phiếu. Lỗ hổng cậu chỉ ra không hề nhỏ, nhưng nó vẫn chưa trả lời được câu hỏi về việc làm sao kẻ nào đó có thể khống phiếu.”

“Đó là lúc lổ hổng thứ hai được lợi dụng.”

Tôi đã cố tưởng tượng về những gì đã diễn ra sau giờ học, ngay trước lúc bỏ phiếu, khi từng thành viên Ban bầu cử đại diện cho lớp lên nhận hộp phiếu… những chiếc hộp gỗ sờn màu hổ phách cứng chắc…

“Cậu từng bảo những cái hộp không được chỉ định cụ thể cho bất kỳ lớp nào trước khi phân phối phải không?”

“Đúng vậy.”

Hắn cũng đã nói là những cái hộp được phát cho bất cứ ai đứng xếp hàng.

“Có vấn đề gì sao?” Hắn hỏi thêm.

“Việc phân phối hộp một cách ngẫu nhiên không hề có vấn đề, thậm chí như đã nói việc ai mang hộp phiếu về phòng Hội cũng được cũng chẳng gây ảnh hưởng… Tuy nhiên, nếu kết hợp cả hai thì cậu nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra?”

Khoanh tay lại Satoshi ngước nhìn bầu trời đầy mây mà lẳng lặng bước tiếp, và suýt tông vào một cái cột điện thoại nếu tôi không kịp kéo tay áo hắn lại.

“Vậy ý của cậu, Houtarou à, là một trong số những học sinh mang hộp phiếu trở lại phòng Hội không phải là người trong Ban bầu cử phải không? Nhưng tớ không chắc là nó có liên quan tới việc những chiếc hộp được phân phối ngẫu nhiên.”

“Ý tớ không phải thế.”

Chả phải muốn đánh đố Satoshi hay gì nên tôi trả lời luôn. Lý do tôi phải lòng vòng bằng câu hỏi này là vì muốn mọi thứ đi theo một trật tự, trước khi tự chúng rối vào nhau như tơ vò trong đầu.

“Ý tớ là: quy trình bầu cử của chúng ta sẽ không thể kiểm soát số phiếu trong trường hợp một học sinh không phải thành viên Ban bầu cử mang một cái hộp chứa phiếu vốn không thuộc về một lớp nào.”

Sau một hồi mắt chữ a mồm chữ o, Satoshi thốt lên:

“Không thể tin nổi. Làm được vậy đâu có dễ?”

Với hiểu biết của tôi về cuộc bầu cử Hội trưởng Hội học sinh Cao trung Kamiyama do Satoshi phổ biến, thì có khá nhiều cơ chế được sử dụng hòng tránh trường hợp kết quả bỏ phiếu bị gây sai lệch. Nhiều là thế, nhưng tất cả chúng đều vô dụng trước một “người vô hình” mang theo một cái hộp cũng “vô hình” không kém.

“Xí, chờ đã.” Satoshi giơ tay ngăn tôi nói tiếp. “Chẳng phải là hơi kì sao? Đúng là thành viên Ban bầu cử không có băng tay hay cái gì để phân biệt nên sự mạo nhận là khả thi, nhưng hộp phiếu thì sao? Không rõ từ bao giờ nhưng tớ dám chắc là những cái hộp đó đã cũ lắm rồi. Chúng không phải thứ có thể làm giả trong vài đêm. Nếu một học sinh mang một cái hộp chỉ cần hơi khác với những cái còn lại thì nguy cơ bị phát hiện chẳng phải rất cao hay sao?”

Dừng lại chút rồi hắn thêm vào:

“Hơn nữa, thủ phạm không thể chỉ mang hộp tới phòng Hội, trúng hết phiếu ma ra để hòa lẫn với phiếu thật rồi rời đi như thể thế là xong chuyện. Sau khi được xác nhận là rỗng lần hai những hộp phiếu sẽ được xếp vào góc phòng. Không dễ để mưu kế được trốt lọt nếu chiếc hộp không giống y hệt phiên bản gốc.”

“Đúng thế, nên cũng có thể nói nếu tồn tại một cái hộp gỗ sờn màu hổ phách cũ kỳ, có khóa và hai bên đề chữ ‘Hộp phiếu’ bên cạnh hai mươi bốn cái được coi là ‘nguyên bản’ thì âm mưu này sẽ trót lọt.”

“Kiếm được cái hộp như thế ở đâu?”

Ở đâu à? Ừ thì…

“Có lẽ là trong nhà kho, tầng một khu Chuyên biệt.”

Dù sao thì đó cũng là nơi chứa mọi hộp phiếu.

Nhìn là biết đầy bực dọc. Satoshi đi mà như giộng chân xuống đất.

“Đó là nơi chứa những cái hộp nguyên bản chứ không phải cái của cậu.”

Tôi cũng phát bực. Ai bảo trong đó chỉ có hai mươi bốn cái hộp không hơn không kém nào? Sao hắn không chịu hiểu nhỉ?

… Nghĩ đến điều đó chợt khiến tôi vỡ lẽ. Ừ nhỉ. Đó không phải lỗi của Satoshi. Chỉ là do tôi có sự trợ giúp từ gia đình thôi.

“Hôm nay có một bưu thiếp gửi cho chị tớ.”

“Hả…” Satoshi trân trân nhìn tôi, đần ra vì sự thay đổi đột ngột trong chủ đề. “Ở, ừ, chị cậu vẫn khỏe nhỉ?”

“Vẫn ổn, cám ơn. Bả quay lại học Đại học rồi nên thời gian này không về nhà, nhưng tấm bưu thiếp thì vẫn gửi về đây. Phiền phức. Tớ phải cất tạm một chỗ và gắng nhớ cho tới khi bả về nhà.”

“Sao không gửi tới nơi tạm trú của chị ấy luôn đi?”

Một luồng điện như vừa xẹt qua tôi. Ờ ha, đơn giản thế mà. Sao không gửi quách nó cho rồi… mà sao mình không nghĩ ra nhỉ?

“Houtarou ới?”

“À xin lỗi. Hơi lơ đãng chút. Quay lại việc chính nhé, tấm bưu thiếp là thông báo về một buổi họp lớp.”

Satoshi trông chả thoải mái chút nào, hẳn là hắn muốn hét lên thế quái nào chuyện này lại là “việc chính”.

“Ưm, nghe này…”

“Và đó là lớp 3-I.”

Một chiếc bán tải lớn với những âm thanh sôi động phát ra qua cửa sổ lao vút qua chúng tôi. Giơ hai bàn tay lên trước mặt, Satoshi lần lượt quặp từng ngón tay vào đồng thời lẩm bẩm A, B, C, D, …

“Ra vậy. Chín lớp…”

Tôi gật đầu.

“Cao trung Kamiyama có tám lớp mỗi khối là câu chuyện diễn ra trong hiện tại. Trước đó là chín, và trước đó nữa có thể từng là mười. Ai biết được lỡ như năm sau chỉ còn lại bảy rồi năm sau nữa chỉ còn sáu lớp.”

“Tớ hiểu rồi. Hiển nhiên quá mà. Số học sinh… hay số người trong độ tuổi học sinh sẽ thay đổi nhưng trường thì vẫn ở đó.”

Chúng tôi luôn nghĩ bản thân mình luôn tồn tại trong Cao trung Kamiyama. Điều đó không hẳn là sai, nhưng vấn đề là ngôi trường sẽ tiếp tục tồn tại mà không chút đoái hoài gì tới sự tồn tại của học sinh chúng tôi. Từng có thời điểm ít nhất một khối nào đó có chín lớp, và cũng lúc đó một cuộc bầu cử Hội trưởng Hội học sinh được diễn ra. Sự sờn cũ trên những cái hộp có thể chứng minh điều đó. Tôi không nghĩ họ sẽ vứt đi những chiếc hộp bị thừa. Ai biết được một ngày nào đó trường Kamiyama sẽ lại có chín lớp một khối đúng không?

“Trong nhà kho nơi tầng một khu Chuyên biệt vẫn có những cái hộp ngủ yên từ thời trường ta có nhiều học sinh hơn bây giờ. Thủ phạm biết điều đó. Hắn lấy một cái hộp dư, bỏ những lá phiếu ma vào, giả danh một thành viên Ban bầu cử rồi thản nhiên mang hộp phiếu vào phòng Hội. Hắn đã không đánh dấu xác nhận lên danh sách lớp. Do chỉ có duy nhất một chiếc chìa và nó có thể mở tất cả các hộp nên hắn không lo về việc chiếc hộp giả không thể được mở. Sáng mai hãy kiểm tra chồng hộp trong phòng Hội, nếu đúng là có hai mươi lăm thì đây là bằng chứng giành cho cậu. Cậu đã bảo là chiều nay chúng chưa bị vội trả lại nhà kho phải không?”

Nếu nhận ra sự tồn tại của những chiếc hộp dư như di sản một thời của trường Kamiyama thì việc nhìn thấu mưu kế của kẻ khống phiếu thật không khó khăn gì. Tôi nhờ có chị từng học ở chính ngôi trường này nên mới hiểu rằng những gì hiện tại chỉ là cột mốc trong dòng chảy thời gian. Còn Satoshi, người chỉ có một đứa em gái thì tất nhiên khó mà biết được. Chỉ vậy thôi, nhưng dù là thế thật thì mọi thứ trôi qua vẫn để lại một dư vị đắng chát nơi đầu lưỡi. Tôi hiểu về sự vô tình của thời gian, nhưng không lúc nào là không cảm giác mình như bị bảo rằng: “Rốt cuộc mày vẫn chả hiểu ý nghĩa thật sự nhỉ.”

“Tớ đã quá chủ tâm về thứ bên trong hộp… thứ gì đó bị thiếu,” Satoshi lẩm bẩm.

Tôi nhún vai đáp lại lời tự nhận xét có phần khó hiểu của hắn, khiến những đồng xu trong túi áo va vào nhau lên những tiếng lách cách êm dịu.


6.[sửa | sửa mã nguồn]

Theo những gì Satoshi kể lại thì hắn đã báo với Chủ tịch Ủy ban phụ trách chung về giả thuyết chúng tôi tìm ra từ đêm hôm trước và sự tiếp tục đến tai trưởng Ban bầu cử. Coi bộ ngài Chủ tịch của chúng ta tới tận bây giờ vẫn chĩa mũi dùi cậu bé lớp 1-E, nhưng do thực tế đã đếm được đúng hai mươi lăm cái hộp trong phòng Hội nên ngài rồi cũng cứng họng.

Lỗ hổng trong hệ thống đã được bịt chặt và cuộc bầu cử được làm lại, với kết quả là Seiichirou Tsunemitsu dõng dạc bước lên vị trí tân Hội trưởng Hội học sinh. Trong bài phát biểu lúc nhậm chức trước toàn trường vào giờ nghỉ trưa không hề có một chữ nào liên quan đến những rắc rối đã âm thầm xảy ra và lặng lẽ trôi qua.

Chúng tôi không biết kẻ khống phiếu là ai. Satoshi thì tuyên bố: “Tìm ra hắn là việc của Ban bầu cử, chả liên quan đến tớ.”

Chưa bao giờ tôi đồng tình với hắn nhiều như vậy.



KHÔNG PHẢN CHIẾU TRONG GƯƠNG[sửa | sửa mã nguồn]

Chương 1[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả bắt đầu vào một sáng Chủ nhật…

Tôi phải ra ngoài để mua mấy thứ lặt vặt. Chóp ngòi của cây bút chì G[1] luôn được dùng cẩn thận rốt cuộc cũng đã tới giới hạn của nó. Tôi còn cần một xấp giấy than, và cũng tự dưng có một nỗi khao khát khó hiểu về một chiếc com-pa mới.

Sau khi hoàn thành việc mua sắm ở tiệm tạm hóa quen thuộc tôi quyết định ghé vào một cửa hàng điện tử. Đã bắt đầu nghĩ về việc vẽ trên máy vi tính nên đi coi giá cả một chút cũng là việc nên làm. Dù cũng có một cái không dùng ở nhà, nhưng dung lượng quá nhỏ của nó lại không phù hợp để tôi có thể thoải mái mà vẽ vời.

Ai cũng bảo máy tính giảm giá liên tục nhưng bằng ấy vẫn là quá khả năng so với túi tiền của tôi. Nếu còn phải cố thêm một cái tablet[2] để cho đủ bộ thì rõ là không tưởng. Fuku-chan chắc là biết cách để kiếm đồ rẻ, nhưng khi nào nó còn chưa thấp hơn một nửa giá hiện tại thì tôi vẫn chỉ biết ngắm nhìn qua cửa kiếng.

Hy vọng dấn thân vào kỉ nguyên số[3] cùng với hoài bão cá nhân hơi bị chùng xuống, tôi rời khỏi cửa hàng và ngay lập tức một gương mặt thân quen xuất hiện.

“Ô, chẳng phải Ibara đây sao? Lâu rồi không gặp!”

Nếu người ấy ngay lập tức nhận ra thì tôi cần một khoảng lâu hơn để định hình lại. À, đó là một người bạn hồi sơ trung, Ikehira. Vì đã nhuộm tóc và trang điểm nên ban đầu tôi chẳng nhận ra cậu ấy.

Hồi sơ trung, Ikehira đã luôn cố gắng kết thân với mọi người trong lớp và cũng chẳng lòe loẹt như bây giờ. Không hẳn chỉ là màu tóc nhuộm hay phấn trang điểm, tôi cảm thấy cậu ấy đã thay đổi.

“A, lâu rồi không gặp.” Tôi vừa vẫy tay vừa nói. Chúng tôi không phải bạn thân nhưng quan hệ thì không xấu ở bất kỳ phương diện nào. Ikehira chỉ là một người bạn-bình-thường-vô-tình-chung-lớp vào năm ba sơ trung. Nhưng, đúng như hình dung, gặp mặt sau một khoảng thời gian dài cũng khiến tôi không khỏi hoài niệm.

“Đang làm gì thế?”

“Tớ đang định mua một cái máy vi tính.”

“Woa! Loại nào?”

“Cái nào cũng mắc kinh khủng, chắc lần sau tớ sẽ quyết định.”

“Thế à? Cái nào cũng mắc sao? Ha!”

Ikehira đáp một cách đầy cường điệu trước khi nhìn vào cái túi xốp của tôi.

“Vậy cậu đã mua gì nào?”

“Ưm, là…”

Bị hỏi một câu không ngờ tới làm tôi đơ họng. Vẽ manga là một bí mật tôi luôn giữ kín với bạn của mình hồi sơ trung. Những người duy nhất biết là Fuku-chan, Oreki cùng vài người bạn tốt khác. Đó chắc chắn không phải việc xấu, nhưng biết được thì không ít thì nhiều họ cũng sẽ hỏi “Cho mình coi được không?” cho mà xem…

Và thế thì xấu hổ chết!

“Bút thước ấy mà.”

Đó không phải là lời nói dối.

Và thay vì một lời bình phẩm u ám, Ikehira gật đầu với một biểu cảm vô tư lự.

“Ồ, dĩ nhiên rồi. Ibara luôn là một người giỏi mà!”

Nếu những lời đó được nói vào hồi sơ trung thì chúng sẽ mang rất nhiều ẩn ý…

Khi sự ghen tị với những người điểm cao trộn lẫn với sự mặc cảm của những người điểm thấp, một sự chán nản khó tả nổi nhất định sẽ sinh ra.

Tuy nhiên, giọng nói của Ikehira rất nhẹ nhàng mà vô tư. Tôi chẳng nên nghĩ ngợi gì nữa. Dù không tự xem mình là giỏi, nhưng trường cao trung của tôi khó vào hơn nhiều so với Ikehira – giờ mà làm bộ khiêm tốn chỉ làm người ta khinh mà thôi. Đã hơn một năm từ ngày tốt nghiệp trường cũ và giờ chúng tôi lại ở đây, có một cuộc trò chuyện bình thường.

Có lẽ chúng tôi đã trưởng thành hơn một chút rồi.

Sự thật trong cái túi của tôi hầu hết là những thứ không phục vụ cho học tập mà là những “bút thước” đặc biệt. Tôi vẫn cảm thấy mình đã nói dối, và có hơi tội lỗi khi hỏi ngược lại:

“Còn Ikehira mua gì thế?”

“À, đáng ra là một cái máy quay phim, nhưng tình hình là giá mắc hơn một ngàn yên so với dự kiến của tớ.”

“Một cái máy quay?”

“Chính xác!” Cậu ấy cao giọng. “Cậu biết không, tớ đang đánh trong ban nhạc đó nha. Nhưng mà… dở tệ. Vậy nên tớ quyết định tự quay mình khi tập luyện. Hơi bị siêng quá hả?”

Tôi cười đáp lại. Nếu chủ đề của cuộc nói chuyện là về vẽ truyện tranh, thì có vô số người ưỡn ngực tuyên bố “Tôi muốn vẽ” nhưng chẳng bao giờ bỏ thời gian ra mà tập luyện. So với họ thì Ikehira khá là siêng đấy.

“Cậu chơi gì?”

“Bass[4]. Nhưng mà, ca sĩ chính vừa bỏ rơi tụi này…”

Vừa dứt lời, biểu cảm của Ikehira đột nhiên trở nên tươi tắn.

“Đúng rồi! Ibara hát hay lắm mà! Cậu đã vào CLB nào chưa?”

Thế quái nào nó lại thành chủ đề được nhỉ?

Tôi giỏi hát cơ á? Cái sự nhầm nhọt này từ đâu mà ra vậy? Lý do duy nhất tôi có thể nghĩ tới là về việc mình đã từng chỉ huy để lớp hợp xướng một lần, do chả ai muốn gánh cái trách nhiệm đó.

Tôi bèn đáp lại đầy cay đắng:

“Có có, có chứ. Tớ bận tới nỗi không có thời gian về nhà nghỉ luôn. Và sẵn tiện đính chính là tớ chưa bao giờ hát hay cả.”

“Hả, thật sao? Là một CLB thể thao à?”

“Không. Là một CLB về văn học. Cậu cũng biết vài thành viên trong đó đấy.”

“Ô, là ai vậy?”

“Có Fukube… và Oreki.” Tôi chậm rãi liệt kê ra từng cái tên.

Đáp lại lời của tôi là một cái trừng mắt quá sức kinh ngạc. Đã quá trễ để rút lại rồ-

“Oreki? Cả cái thằng đó sao!” Ikehira la lên đầy tức tối.

Và rồi, dường như là đã hiểu lầm, cậu ấy hạ giọng xuống mà nói:

“Vậy ra đó là tình hình… Oreki cũng thò đầu vào. Thật là xui-siêu-hạng nhỉ?”

“À… ưm…”

Ikehira bước lại gần, nhẹ giọng hơn nữa để gần như thì thầm.

“Dù tớ không biết CLB của cậu là gì… nếu thằng đó lại dở chứng… cậu biết đấy… tốt nhất là đá nó ra khỏi CLB đi. Tớ không thể làm gì để giúp cậu được, nhưng chắc chắn phải có ai đó sẵn lòng giúp cậu một tay.”

Nuốt mớ từ ngữ nặng nề xuống cổ họng, tôi chỉ biết im lặng mà gật đầu một cái.

Sau đó, chúng tôi tán gẫu thêm một chút trước khi vẫy tay chào tạm biệt. Trên đường về, tôi không thể cản nổi tâm trí mình hướng về Oreki.

Phản ứng của Ikehira không phải là một sự làm quá. Vào năm ấy, tất cả học sinh năm ba sơ trung Kaburaya đều có lý do để ghét bỏ Oreki.

Hay nói đúng hơn, tất cả học sinh sắp tốt nghiệp năm ấy đều lý do để ghét cậu ta.

Những gì xảy ra lúc đó tôi chưa hề quên. Nhưng…

Theo từng bước chân, tôi như vẫn còn nghe loảng thoảng lời nói nhẫn tâm, cay độc của Ikehara. Sự việc ấy chắc chắn phải diễn ra gần ngày lễ tốt nghiệp, tôi nhớ vậy, nhưng không phải vào tháng một hay tháng hai. Trí nhớ của tôi có thể hơi lờ mờ một chút, nhưng có vẻ nó đã xảy ra vào những ngày cuối cùng của tháng mười một.

Chương 2[sửa | sửa mã nguồn]

Đó là một truyền thống của trường sơ trung Kaburaya. Hằng năm, các lớp có học sinh chuẩn bị tốt nghiệp sẽ cùng nhau làm một tác phẩm “kỉ niệm tốt nghiệp”.

Vì tất cả các “thế hệ” đều muốn lưu giữ cái riêng, nên một số lượng không nhỏ các ý tưởng đã vô tình bị lặp lại trong vòng mười năm nay. Những tiền bối đã tốt nghiệp năm ngoái đã để lại tác phẩm “Trồng cây” của mình: một cái hạt được giao cho khoảng hai trăm học sinh sắp tốt nghiệp năm ấy, truyền từ tay người này sang tay người nọ cho đến người cuối cùng, người đó sẽ gieo nó xuống đất. Vâng, cả một khóa sắp tốt nghiệp nghĩ ra được cái “tác phẩm” như vậy… đúng là tôi phải “phục” sát đất.

Tôi không biết mọi người đã đi đến quyết định làm cái đó như thế nào. Có lẽ ít nhiều cũng dính dáng đến nhà trường bởi dự án hiển nhiên sẽ cần tiền. Rút kinh nghiệm từ những gì xảy ra năm trước, vài người có quyền hành trong chúng tôi đã nhất trí làm ra một cái “kỉ niệm tốt nghiệp” đàng hoàng hơn một chút.

“Quyết định cuối cùng của tụi này là một cái gương thiệt bự. Các bạn thấy sao?”

Khi lớp trưởng lớp tôi, Sajima-san, thông báo điều này, một tràng phẫn nộ ồ ạt vang lên từ đầu tới cuối phòng học. Chẳng ai nghĩ đến việc làm một tấm gương cả, chưa nói đến việc kiềm được bao nhiêu người trong trường biết một cái gương được làm như thế nào.

Gương mặt của Sajima-san rất dễ ửng đỏ lên. Vào lúc đó chắc hẳn cậu ấy đang xấu hổ mà vội đính chính:

“Ý tớ là, làm một cái khung cho tấm gương cơ!”

Rồi chúng tôi cũng mường tượng được khi nghe vậy.

Chúng tôi sẽ tạo ra và trang trí một cái khung gỗ cho một tấm gương cao hai mét. Mỗi lớp sẽ đảm nhận một phần gỗ để điêu khắc. Khi hoàn thành, tấm gương và cái khung được trang trí của nó sẽ được để lại ngôi trường sơ trung Kaburaya, để mãi mãi soi đường dẫn lối cho đàn em mai sau.

Nếu bạn có muốn hỏi rằng cái ý tưởng này tốt hay tệ ấy, thì tôi sẽ không ngần ngại chọn cái thứ hai. Một tấm gương thì vẫn tốt hơn một cái hạt, nhưng thành thật mà nói thì nó quá vô dụng, ngoại trừ việc sau vài năm nữa sẽ “may mắn” trở thành đề tài cho ít nhất một câu chuyện kinh dị của trường.

Với quyết định ấy, bước đầu tiên là chọn ra người thiết kế mẫu trang trí.

“Takasu-san bên lớp 2 sẽ nhận phần thiết kế.”

Tôi hiểu ngay lập tức. Ami Takasu đã từng dành giải Bạc trong một cuộc thi thiết kế cấp thành phố. Cậu ấy cũng tự thiết kế linh vật cho những hội thao của trường. Không nghi ngờ gì cậu ấy là người có khả năng vẽ tốt nhất trong tất cả chúng tôi. 

Thiết kế của Takasu-san được chia thành mười phần phân đều cho năm lớp. Mỗi lớp sau đó sẽ tự chia nhau ra để điêu khắc những phần của mình.

Một khi tất cả các phần được ghép lại thì cái khung sẽ hoàn thành.

Trông thì có vẻ chẳng mất thời gian và công sức cho lắm. Phải vậy thôi, vì vào thời gian đó chúng tôi còn phải chuẩn bị cho kì thi vào trường cao trung. Đến cuối tháng mười hai là phải đầy đủ khiên giáp – hẳn ai trong chúng tôi cũng nghĩ vậy. Nếu thiết kế quá phức tạp thì sẽ chẳng ai dám làm. Kết quả là không ai phản đối, và nhờ thế chúng tôi bắt đầu xắn tay áo cho dự án tốt nghiệp của mình.

Thiết kế của Takasu-san mang một dáng vẻ rất chính thống – những dải nho leo quấn quanh phần giữa của khung trong khi thân và lá sẽ phủ hết tất cả, và những trái cây mọc ra thành chùm từ những đoạn cong của thân tạo ra một hình tượng đầy xum xuê. Một số đoạn sẽ được trang trí với bọ rùa và bươm bướm, cùng với vài chú chim lượn vòng quanh nhau.

Thật ra tôi có thể nói vậy là vì đã chứng kiến tấm gương khi nó được hoàn thành. Ban đầu tất cả những gì chúng tôi nhận được chỉ là mấy tấm gỗ hình vuông cạnh mười xen-ti-mét và tấm hình vẽ mẫu cho riêng phần mình đảm nhận.

Nhiệm vụ của nhóm tôi lọa lạc ở phía trái khung gương. Sajima-san đã bảo rằng phần trên và dưới được thiết kế rất nhiều chi tiết trang trí, trong khi hai bên thì ít hơn. Vì vậy chúng tôi đã thảo luận và quyết định nhóm nào sẽ chỉ làm đúng một miếng gỗ ở phần trên hoặc phần dưới, và nhóm nào sẽ làm hai miếng gỗ ở mỗi bên. 

Trong hai phần được giao được giao cho chúng tôi, một chứa những họa tiết dây leo chằng chịt và vài chiếc lá. Nó được xem là phần dễ hơn trong khi phần còn lại có cả một chú chim đậu hờ trên một chùm nho mọc ra từ một đoạn dây leo.

Tụi con trai trong nhóm rầu rĩ:

“Tại sao tụi này phải làm con chim chứ?”

“Trong khi mấy nhóm khác chỉ phải khắc dây leo thôi, công bằng quá ha.”

Dù bực bội nhưng tôi cũng khó mà trách được. Nhóm chúng tôi đã được giao phần việc thử thách nhất so với các nhóm kia. Trên phương diện “công bằng” thì đúng là có lý do để tức tối…

Nhưng mà,

“Ngay từ đầu có ai nói là sẽ công bằng đâu, đúng không?”

Một lời đáp trả hoàn toàn hợp lý, thường thì tôi phải là người làm như vậy.

Nghe thế tụi con trai liền trật tự. Khi nhận ra mình không phải tự làm hết những thứ này chúng chắc hẳn đã mừng thầm trong bụng. Thiết kế phức tạp, thời gian giới hạn và cả một kì thi đang chờ đợi – xét trên những yếu tố ấy, thì việc để tụi con trai chưa có chút kinh nghiệm gì về điêu khắc làm việc này quả là một rủi ro quá lớn.

Fuku-chan đã từng nói rằng điều tôi quý trọng nhất là “Công bằng”. Vì không muốn chủ đề của cuộc bàn luận hướng về bản thân nên hồi đó tôi đã phớt lờ những từ ngữ ấy.

Tuy nhiên, giờ nghĩ lại thì tôi đã nhận ra. Rõ như trăng rằm rằng Fuku-chan thực sự rất hiểu tôi…

Nhưng ở thời điểm phải nhận một phần việc không công bằng từ cái “kỉ niệm tốt nghiệp”, tôi đã không thể làm gì hơn ngoài việc chấp nhận. Cũng may, tôi có thể được xem là có chút tài về điêu khắc cộng với việc Mishima, một cô bạn là thành viên CLB Nghệ Thuật cũng ở trong nhóm. Chuyên môn của cậu ấy là chạm khắc, nhưng vẫn đủ vượt trội so với tôi về khoản điêu khắc[5]. Hai miếng gỗ vuông chả là gì đối với hai chúng tôi cả - dù, phải thừa nhận rằng việc học của chúng tôi có bị xao nhãng trong quá trình làm việc.

Trước đó Mishima và tôi chưa bao giờ trò chuyện. Có thể là không đúng, nhưng tôi luôn thấy Mishima là một người luôn cảnh giác mọi thứ và xa rời mọi người. Tuy nhiên, trong mười ngày làm chung để hoàn thành dự án tôi đã nhận ra mình và cậu ấy từng bước sẻ chia những bí mật của mình cho nhau. Biết ước mơ thành họa sĩ manga của tôi, cậu ấy không hề chọc và cũng chẳng nói ngay rằng tôi có thể làm được. Mỉm cười, cậu nói chỉ nhỏ nhẹ: “Sẽ khó đấy.”

Mishima đã hoàn thành xong việc điêu khắc chú chim. Khi ấy chưa biết là loài chim gì nên tôi bèn hỏi:

“Là chim nhạn à?”

“Tớ nghĩ vậy.”

“Được rồi, vậy đó là chim nhạn.”

Sau ba lời nói chúng tôi đã xem nó là một con nhạn. Còn bây giờ, tôi nghĩ nó phải là một con chim ruồi thì hơn.

Ít nhất là với tôi, góp một phần vào tác phẩm tốt nghiệp năm ấy là một kỉ niệm đẹp.

Có một vấn đề nhỏ tới mức chẳng đáng để nhớ. Khi quá trình điêu khắc của chúng tôi đến những công đoạn cuối, một tên trong tụi con trai chưa bao giờ giúp tới nửa tay tự dung phàn nàn:

“Đấy, rốt cuộc cũng là những đứa giỏi thì làm hết. Dù có là kỉ niệm của cả khối thì ngay từ đầu cũng đừng thúc ép người không biết gì phải làm chứ?”

Tôi nhớ như in những lời này.

Thế thì sao không nói ngay từ đầu, rồi chờ đến lúc mọi chuyện săp xong mới dở chứng? Có rất nhiều thứ muốn phản pháo lại. Rốt cuộc, tôi đã chọn cách ít nữ tính nhất có thể…

“Bị ngu hả?”

Có lẽ tôi đã nói vậy đấy.

Và thế là chúng tôi cũng hoàn thành hai miếng gỗ mà không một sai sót. Phần của tôi không được chau chuốt như của Mishima nhưng chắc chắn là trung thành với thiết kế nguyên bản. Tôi rất thỏa mãn về nó. Các nhóm khác cũng lần lượt hoàn thành công việc của mình. Những dải nho leo uốn lượn cong vồng, những cái lá lo bè che phủ hơn nửa bề mặt, từng miếng từng miếng một dần dần tụ về một chỗ.

Cuối cùng, ngày hái quả từ những công sức của chúng tôi đã đến…

Và sự việc cũng xảy ra vào chính cái ngày này.

Cái nhóm liên tục xin gia hạn thời gian hoàn thành của mình đã đưa ra một thứ làm cho mọi người sửng sốt.

Nhóm đó chịu trách nhiệm với miếng gỗ nằm ở phần dưới khung. Trong thiết kế của Takasu-san, những nhánh nho leo lẽ ra phải được khắc cho thõng xuống và có hơi cong lên một chút. Một nhánh cây vững chắc lẽ ra phải được bắc ngang qua chỗ những đoạn leo bắt đầu chõng xuống. Dù không dễ để làm cho dây leo chõng xuống một cách tự nhiên, nhưng so với “con nhạn” của chúng tôi thì vẫn còn dễ hơn nhiều.

Là thế, nhưng trên tấm gỗ họ đưa ra chỉ có đúng một nhánh leo ngang đuột như cây bút chì.. Không, chẳng thể coi đó là dây leo nổi. Một “cái gậy” hết sức cẩu thả và xấu xí được đẽo ra vắt ngang ngay ở giữa miếng gỗ. 

Chẳng có theo một khuôn khổ nào và chắc chắn là kết quả của sự lười biếng. Theo như tôi nhớ, thì khi lớp trưởng Sajima-san nhận lấy miếng gỗ mặt của cậu ta nhanh chóng đỏ au mà gầm lên giận dữ:

“CÁI QUÁI NÀY LÀ SAO? SAO KHÔNG NÓI CHO TÔI BIẾT LÀ CẬU KHÔNG LÀM ĐƯỢC? THẰNG MÙ CÒN THẤY LÀ NÓ KHÁC VỚI THIẾT KẾ!”

Phía bên kia, cậu con trai vừa giao ra miếng gỗ không có chút cảm xúc.

“Vì khắc nó lên rồi xuống phiền phức lắm,” cậu ta đã nói như vậy.

Đó chính là phần của Oreki.

Không còn thời gian để chữa lại chỗ đó. Cái khung phải được lắp lại hoàn tất trước khi gương được chuyển đến. Vô vọng rồi. “Tác phẩm” của Oreki cũng phải được lắp vào.

Tôi cũng góp một tay trong việc lắp các miếng gỗ lại vào nhau. Việc này được thực hiện trong nhà thể thao. Chúng tôi trải giấy báo lên sàn trước rồi mới đặt lên những miếng gỗ từ các lớp. Trên mỗi miếng gỗ đều có đánh số nên chỉ việc theo thứ tự định trước mà lắp chúng vào. Sau khi mọi miếng đã được ghép vào nhau một cách hoàn hảo thì công đoạn tiếp theo là dán lại bằng keo dán gỗ. Cái mùi nặng khiến nó khá nguy hiểm với học sinh nên việc này được giao cho giáo viên. Đeo bao tay và dùng bàn chải, thầy bắt đầu dán từng miếng gỗ chặt vào nhau. Những học sinh đã giúp xếp những miếng gỗ đứng qua một bên mà yên lặng xem thầy làm.

Vào mùa đông thì ngày rất ngắn. Tôi nhớ là vào lúc ấy trời đã chuyển màu đen kịt. Hình như là có tuyết nữa.

Thế rồi công đoạn dán cũng hoàn tất. Thầy chậm rãi ưỡn thẳng lưng mà nói:

“Rồi, xong rồi đó.”

Vì không được đùa giỡn trong khi keo vẫn chưa khô, chúng tôi chỉ đứng tại chỗ mà dán mắt vào cái khung gương đang nằm trên mặt báo. Giờ tự dưng tôi lại thấy thực sự cái việc ghép khung lại không cần nhiều người đến thế.

Nhưng, tôi biết rằng tất cả những học sinh đã ở trong nhà thể thao chiều hôm ấy đã cảm thấy một nỗi hân hoan không thể nói thành lời. Tôi nghe vài cậu con trai đứng cạnh bàn luận:

“Không tệ chút nào.”

“Đồng ý.”

Thực tình, với một thứ được làm bởi một mớ học sinh sơ trung thì cái khung này phải nói là khá đẹp.

Hai phần mà tôi và Mishima đảm nhận nổi bật hẳn trên thành phẩm. Chẳng quan tâm những lời khen ấy có phải giành cho mình hay không, tự tôi đã hoàn toàn hài lòng với thể hiện của mình.

Tuy nhiên, vẫn có những phần không được làm tốt lắm bị lẫn vào – vài nhánh leo lợt lạt vì bị khắc quá mỏng, vài chỗ thì lá không gắn vào được với thân nên trông nó như thể đang lơ lửng. Nhưng mà có tệ đến thế nào đi nữa thì chắc chắn là vẫn còn đẹp hơn “cây gậy” của Oreki.

Thôi thì tôi cũng cảm thấy thoải mái một tí. Với một người xét nét tới từng điểm nối nhau của các nhánh leo thì chắc chắn sẽ sỉ nhục cái nhánh thẳng đuột của Oreki, nhưng cái phần nhỏ xíu ấy không đáng trở thành một lỗi lớn khi nhìn tổng thể cái khung. Hên là miếng của Oreki tọa lạc ở phần dưới, nơi các nhánh leo đều theo một hướng đi ngang nên càng dễ bị bỏ qua. Tới giờ cũng chưa có ai nhìn vào mà nói rằng: “Chỉ có lớp 5 là lười biếng.”

Sẽ tốn từ hai đến ba ngày để keo khô hoàn toàn, có nghĩa là chúng tôi đã làm hết phần việc có thể làm vào ngày hôm đó. Khi chúng tôi vừa dọn xong mớ giấy báo và chuẩn bị đi về thì Takasu-san bước vào.

Dù biết về sự nổi tiếng của Takasu-san, nhưng vì chưa từng học cùng lớp nên tôi không biết mặt cậu ta. Trong tưởng tượng của mình Takasu-san có một thân hình mảnh mai của một nghệ sĩ, thế nên tôi đã không ngờ rằng cậu ta lại có một gương mặt sắc mà cứng rắn đến thế. Tôi chỉ nhận ra khi nghe thấy một người gần đó thì thầm: “Ồ, Takasu-san kìa.”

Cậu ấy không đến một mình, mà được hộ tống bởi ba bạn nữ khác có vẻ là bạn thân. Quát vào một trong những học sinh đang đứng, cậu ta hỏi:

“Thế nào? Xong chưa?”

Giọng của cậu ta suồng sã một cách khó tin. Tôi không thể không cảm thấy một cơn sóng khó chịu ập vào mình, cũng chẳng thể thấy được mối liên hệ giữa những nhánh leo đầy chau chuốt hút hồn người xem với cái giọng cười ấy. Cứ như phải là từ hai người không quen không biết nhau vậy.

Bốn người họ vừa nói vừa cười sang sảng khi tiến lại cái khung gương.

Tôi đã nghĩ là thành phẩm này sẽ đủ làm cho Takasu-san hạnh phúc. Dù là có vài chỗ không được như ý, nhưng ngay đầu chẳng ai nên hy vọng một sản phẩm chắp vá từ cả trăm học sinh là hoàn hảo. Và dù chúng tôi không thể sao chép y chang bản thiết kế nhưng đây là một tác phẫm phù hợp với khả năng của mọi người. Ngoại trừ bọn họ thì tất cả học khác đều im bặt.

Thế nhưng, khoảnh khắc Takasu-san nhìn vào các họa tiết trên khung, nụ cười của cậu ta lập tức đông cứng.

“Ơ…”

Một cảm giác ớn lạnh chạy dọc xương sống khi tôi nhận ra sự thay đổi biểu cảm đột ngột ấy. Trông gương mặt tối sầm tôi đã hiểu được thế nào là “mất hết tinh thần”. Rất nhanh chóng, cậu ta quay lại.

Takasu-san giơ tay chỉ vào một chỗ trên tấm khung mà nói:

“Cái… cái gì ở kia?!”

Chỗ cậu ta chỉ vào không đâu khác chính là tác phẩm trừu tượng của Oreki. Tiếng gào thét của Takasu-san liền vang dội khắp nhà thể thao.

“THẾ NÀY LÀ THẾ NÀO? SAO LẠI THÀNH RA NHƯ VẦY? QUÁ ĐÁNG MÀ! ĐỪNG - CÓ - GIỠN - VỚI - TÔI! THẬT LÀ QUÁ LẮM MÀ!”

Thấy thần tượng suy sụp trước mắt, ba đứa con gái hộ tống ngay lập tức lại gần để dỗ dành. Họ liên tục nói những câu như “Sao vậy?” và “Bình tĩnh nào”.

Nhưng rồi cuối cùng Takasu-san cũng khóc. Cậu ta lấy tay che mặt nhưng cũng ngay lập tức tuôn một tràng thổn thức. Tức tối tột cùng, ba đứa con gái quay lại mà quát vào những học sinh đang đứng im lặng.

“Vậy là có ý gì hả? Ai làm ra cái này?”

“Đây là kỉ niệm cuối cùng của cậu ấy với trường! Các người tốt nhất là nên làm cho coi được đó!”

“Xin lỗi! Xin lỗi Ami mau!”

Nói thế thì cũng có khiến cái người đã làm ra phần đó xuất hiện được đâu? Chẳng ai ở đây có thể giải quyết cho họ cả, và Takasu-san thì vẫn tiếp tục màn sướt mướt của mình. Cậu ta còn chưa chịu dừng mặc cho thầy ra sức dỗ.

Chịu thua, thầy đành hướng về chúng tôi mà hỏi:

“Lớp nào chịu trách nhiệm cho phần này vậy?”

Ngoại trừ Takasu-san, mọi người đều trao đổi với nhau những ánh mắt lo lắng. Trong những trường hợp thế này thì tốt nhất là tôi nên dung cảm một chút.

Giờ nghĩ lại, thì hình như chưa để thầy chờ tới mười giây tôi đã đáp.

“Lớp 5[6].”

Ngay sau đó là ba cái nhìn trừng trừng đầy giận dữ.

Ba nữ hộ vệ của Takasu-san bắt đầu phun ra những lời đe dọa như “Tao sẽ đánh mày chết” hay “Sao mày không đi chết đi?” Màn chửi rủa chỉ được trấn áp khi thầy lên tiếng bảo vệ cho tôi.

“Ibara không làm miếng gỗ này.”

Trong dự án kỉ niệm tốt nghiệp, sự thiếu trách nhiệm của lớp 5 đã làm cho nhà thiết kế, Ami Takasu, khóc nức nở. Cái tít này đã được lan truyền khắp khối chỉ ngay trong ngày hôm sau. Lớp 5 cũng buộc phải đưa ra tên của cậu ấy, và từ đó người ta biết đến Oreki với tư cách là “kẻ phá hoại”.

Nhiều học sinh trong lớp đã liên tục chỉ trích Oreki.

“Cậu phải chịu trách nhiệm chứ?”

“Đi xin lỗi ngay và luôn!”

“Nhờ ơn chú mà lớp 5 đã có vết nhơ cuối cấp nhé, cám ơn!”

Tên đó phớt lờ sạch sẽ mọi lời nói của họ.

Không ai bảo vệ cho Oreki cả. Trong những tiết nghỉ trưa Oreki rất hiếm khi trong lớp. Là một thủ thư nên tôi biết trong thời gian này cậu ta đến thư viện, không phải để mượn sách mà để đọc cuốn sách của chính mình – luôn luôn là như vậy.

Theo góc nhìn của tôi thì sự việc xảy ra không thể trách một mình Oreki được. Không một ai phải tự mình làm một miếng gỗ cả, đó phải là nhiệm vụ của cả nhóm. Mỗi nhóm trong lớp 5 có sáu thành viên, tức là ngoài Oreki thì phải còn năm người nữa đáng phải chịu một phần trách nhiệm cho miếng gỗ. Rõ rành rành ra thế, vậy mà Oreki lại trở thành cái bia chịu tất. Không công bằng chút nào. Thật lòng mà nói, bất cứ lúc nào thấy Oreki bị mắng bởi chính người cùng nhóm cậu ta tôi lại thấy phát bệnh.

Tuy nhiên, tôi cũng không xem Oreki là một nạn nhân vô tội. Chắc chắn đó là làm sai. Thậm chí tôi còn chưa bao giờ trao đổi ánh nhìn khi cậu ta ngồi một mình trong thư viện nữa.

Chuỗi ngày Oreki chịu đựng cái tội mà mọi người đổ cho mình không kéo dài lâu. Sau sự việc ấy, trường Sơ trung Kaburaya bước vào kì nghỉ đông. Và sau kì nghỉ chúng tôi bắt đầu học kì thứ ba của mình, và sau nữa, chẳng còn ai bỏ sức mà ca thán về cái khung gương hết, đơn giản bởi vì…

… Kì thi đầu vào Cao trung đã ở ngay trước mặt.

Vào tối cái ngày vô tình chạm mặt Ikehira, tôi ngồi trước bàn học trong phòng mà nghĩ về những chuyện đã qua trong yên lặng.

Từ ngày bước vào Cao trung, gia nhập CLB Cổ Điển và có những cuộc đối thoại đầu tiên với Oreki, tôi vẫn để treo mọi thứ liên quan đến cái dự án tốt nghiệp năm ấy…

Dù chưa từng một lần nghĩ cậu ta là người duy nhất sai nhưng, khi ấy, tôi đã tin rằng Oreki không thích làm việc mà cậu ta cho là “phiền phức” nên đã cẩu thả ra một miếng gỗ như thế. Điều đó nói lên rằng cậu ta là một người thiếu trách nhiệm.

Nhưng sau chuyện đó, quá nhiều thứ không ngờ đến đã xảy ra.

Lý do duy nhất tôi gia nhập CLB Cổ điển là muốn được ở gần Fuku-chan hơn. Tôi đã chẳng mảy may quan tâm tới Oreki. Tuy nhiên, sau khi chứng kiến cậu ta bỏ công giải quyết hết việc này tới việc kia tôi bắt đầu ngờ rằng mình chưa hiểu cậu ta nhiều như đã nghĩ. Hay, đúng hơn là từ đầu tôi đã chẳng bao giờ cố để mà hiểu.

Cậu ta đã hợp tác với chúng tôi để tìm ra đáp án cho nỗi ưu tư của Chi-chan.

Và rồi, cậu ta lại tự mình vượt qua những tình huống phức tạp để giúp các anh chị ở một lớp trên. Họ vốn chẳng quan hệ gì với chúng tôi, nhưng cậu ta đã giúp họ hoàn thành bộ phim còn dang dở của mình.

Một lô lốc những sự kiện như thế cứ thi nhau mà diễn ra. Tôi đã hoàn toàn bị choáng ngợp trước sự tham gia và hoàn thành xuất sắc những vấn đề của Oreki. Làm sao mà một gã u ám như vậy lại trở nên năng động như thế? Câu hỏi đó luôn túc trực trong đầu tôi. Nhưng mà, điều dường như là kì lạ nhất với tôi đã xảy ra là một thứ khác.

“…mình nhớ là đâu đó ở đây mà…”

Tôi lẩm bẩm khi đang mần mò trên kệ sách. Giữ cho nó gọn gàng là thành quả của sự chăm sóc cẩn thận của tôi dành cho những quyển sách. Chỉ mất một thoáng để tôi tìm ra cái mình cần.

Kem đá.

Đó là tên một cuốn tập san văn học kì lạ vì chẳng tập trung viết về một chủ đề nào. Cũng nói luôn là năm ngoái, khi phải làm hầu như mọi công đoạn biên tập tôi đã mắc một sai lầm đáng trách trong việc in ấn. Sau sự cố đó tôi đã nhét nó sâu vào trong giá sách mà chưa hề dòm qua lần thứ hai cho đến hôm nay.

Không cần phải lật ra, tôi vẫn còn nhớ phần lớn nội dung của nó.

Và điều đặc biệt kì lạ ở đây là sự tỉ mỉ của Oreki trong bài viết của mình.

Một sự kiện thú vị xảy ra thường rất nhanh chóng triệu hồi được năng lượng và niềm hứng khởi. Một ví dụ dễ chỉ ra là trong một đại hội thể thao hoặc là đám cưới của họ hàng thân thích, cả hai đều là những sự kiện đặc biệt vui. Hay nếu có ai la lên “Chúa ơi, có người chết trong căn phòng kín!” thì người ta sẽ lập tức tới hiện trường với quả tim đập nhanh trong hồi hộp. Đó chỉ là những phản ứng tự nhiên mà thôi. So sánh với điều đó thì việc viết văn là một trải nghiệm hoàn toàn khác. Trong hầu hết các trường hợp khó có thể miêu tả công việc này đầy “hứng khởi” được. Lấy Fuku-chan làm ví dụ vậy, cậu ấy đã phải tiêu tốn khá nhiều công sức để có thể hoàn thành phần viết của mình cho “Kem đá”. Và bởi vì mến cậu ấy, nên tôi mới phải bắt cậu ấy ngồi trong phòng và mắng…

“Tớ đã nói rồi, Fuku-chan à. Nói ngay từ đầu rồi. Cậu có nghe không vậy? Chẳng phải tớ đã bảo cậu rằng chỉ nghĩ mình sẽ viết về ‘một cái gì hay hay’ thì chẳng làm nên cái gì rồi sao? Vấn đề là ở ý tưởng. Dĩ nhiên viết cho hay là điều quan trọng nhưng đó không làm nên một bài văn. Nghe nè, cái mớ cậu viết ra chưa có cái nào hoàn thành cả. Dù nó có hay hoặc là không quan trọng thì cậu vẫn phải viết đến hết. Chỉ vì cậu chẳng chịu nghe nên bây giờ tụi mình mới phải gấp rút như thế đó! Cậu nên hiểu những gì mình đã làm. Có hiểu chưa vậy? Thông minh thì giờ phải hiểu rồi đúng không? Rồi, để tớ giúp cậu về ý tưởng. NGỒI – XUỐNG – ĐÂY!”

Thế đấy.

Tôi sẽ không bảo Fuku-chan là vô vọng, phải nên xem cậu ấy là một trường hợp bình thường. So với ‘Kem đá’ thì việc xuất bản của bên CLB Manga còn… không, tôi không nên nghĩ nhiều về việc đó nữa.

Trở lại chủ đề, Oreki đã có một vẻ mặt thiếu kiên nhẫn khi nói “Đây”, rồi đưa xấp bài viết của mình trong “Kem đá” cho tôi. Khi đó tôi vẫn còn đang thương lượng với nhà in và chưa đưa ra hạn cho việc nộp bản thảo. Không bộc lộ chút cảm xúc gì, nhưng thật tâm tôi đã cực kì bất ngờ. Cái châm ngôn mà cậu ta hay nói mỗi khi muốn tỏ ra mình bảnh – Việc phải làm thì phải làm gọn… phải không nhỉ? Tôi đã luôn xem đó là sự chống chế của một tên lười cho đến khi thật sự hiểu sự trung thành của cậu ta với phương châm của mình.

Oreki sẽ không tránh né những việc phải làm. Có lẽ.

Nhìn lại khoảng thời gian trải qua cùng CLB Cổ Điển, cũng là năm bắt đầu chú ý đến Oreki, tôi bắt đầu nghĩ về sự việc đó một lần nữa.

Tác phẩm tốt nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong toàn thể học sinh năm ba. Oreki chẳng lẽ lại là người lười biếng trong cả sự kiện đặc biệt ấy? Cậu ta hồi đó thảm hại như vậy sao?

Nằm trên giường, tôi trở mình…

“Có gì bất thường rồi.”

Tôi cảm nhận rằng đã có chi tiết bị bỏ sót. Khi ấy, cậu ta đã định làm gì chăng? Liệu nó có chứa ẩn ý gì không? Chỉ lúc này, rất lâu từ sau vụ việc tôi mới đặt ra những câu hỏi này. Tấm gỗ khắc dối đó ẩn chứa điều gì? Chắc chắn phải là thứ khiến cho Oreki hành xử kì lạ như thế.

Dù đã là rất lâu, nhưng tôi muốn tìm ra sự thật.

Chương 3[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày đầu tiên trong cuộc điều tra nho nhỏ này, tôi đã vượt qua một trở ngại đáng kể.

Thứ hai, sau giờ học tôi đến phòng Địa chất. Vì đây là chuyện của Oreki nên có thể tôi chỉ cần hỏi trực tiếp cậu ta để biết sự thật. Đó là kế hoạch ban đầu.

Người duy nhất trong phòng là Oreki. Nếu là ngày thường thì tôi đã thầm rủa cái vận xui của mình. Nhưng, hôm nay thì lại là một cơ hội hoàn hảo. Như mọi khi, Oreki luôn ngồi bên chiếc bàn thứ ba, đọc một quyển sách với vẻ mặt u ám thương hiệu. Khi tôi vào phòng cậu ta chỉ ngẩng đầu lên dòm một phát rồi trở lại với quyển sách của mình. Quen quá rồi.

Oreki chẳng mảy may để ý khi tôi để cặp xuống mà tời gần cậu ta. Tên này đang đọc cái quái gì thế nhỉ? Tôi nghiêng đầu tính dòm thử nhưng, cứ như một cái cảm biến vậy, Oreki cũng nhẹ nhàng nghiêng quyển sách để che cái tựa. Tôi bèn thôi, và cậu ta cũng đưa quyển sách trở lại bình thường. Oreki sẽ chẳng mang một quyển sách bất thường lên trường, vậy có gì mà phải giấu? Nghĩ thêm về điều đó khiến lời nói của tôi hình như hơi sắc một chút:

“Tôi có một câu hỏi cho cậu.”

Nghe cứ như là tra vấn ấy.

“Một câu hỏi cho tớ?” Oreki chỉ vào mình mà hỏi, tỏ ra khó hiểu. Dù có là cậu ta đi nữa thì quả là tôi cũng chưa ý tứ lắm.

“Ừm, xin lỗi. Không có ý gì nhưng mà, tôi chỉ muốn hỏi cậu một chút về chuyện xưa thôi.”

“Chuyện xưa à…”

Lầm bầm, Oreki đặt quyển sách mình đang đọc lên bàn, không quên úp cái tựa xuống.

“Nếu là về lịch sử thì Satoshi biết nhiều hơn đấy.”

Tôi ít khi nào đủ kiên nhẫn để giỡn kiểu này. Kéo một cái ghế tôi ngồi đối diện Oreki.

“Là về việc đã xảy ra ở trường Sơ trung.”

“Satoshi cũng biết nhiều hơn đấy.”

“Và là về cái kỉ niệm tốt nghiệp của chúng ta.”

Ánh nhìn của Oreki ngay lập tức giao với tôi, lộ ra một sự căng thẳng thoáng qua. Chầm chậm, cậu ta lên tiếng:

“Chẳng phải Satoshi biết về vụ này nhiều hơn tớ sao?”

Hẳn rồi, khi ấy Fuku-chan là thành viên trong ban giám sát. Việc Fuku-chan bị mang ra đây không nằm ngoài dự kiến, tuy nhiên tôi vẫn cảm thấy cậu ta đang cố tránh né… hay chỉ là nghĩ nhiều quá chăng?

Tôi bèn nói thẳng:

“Là về cậu. Còn dám bảo Fuku-chan biết nhiều hơn nữa không?”

“Rồi rồi, hỏi thì hỏi đại đi.”

Tôi nắm tay lại thành nắm đấm mà để lên bàn.

“Cậu chưa quên, phải không? Cái gương lớn ấy, và phần khắc trên khung… chỉ là vì lười biếng thôi đúng không?”

“Ra là thế. Sao khi không lại thắc mắc về chuyện đó?”

“Hôm qua tôi vô tình gặp Ikehira và tụi này đã nói về cậu.”

Nói xong chợt nghĩ chả biết tên này có còn nhớ ai trong lớp không, tôi thêm vào: “Ikehira hồi đó cũng học lớp 3-5 ấy, nhớ không?”

“Ừ, tôi biết.”

“Vậy thì là thật hay không?”

Oreki chớp chớp mắt trước khi trả lời.

“Thật. Chiều cao trung bình, không mập không ốm… mắt đen, và tóc cũng vậy.”

“Cậu nghĩ tôi là đồ ngốc à!”

Nghe thế Oreki hơi nhướn mày một chút. Đặt tay lên quyển sách cậu ta nói:

“Đang đọc tới đoạn hay…”

“Thế sao? Vậy xin lỗi. Lần sau nói cũng được.”

“Không sao.”

Oreki để quyển sách qua một bên trước khi đặt lại tay lên bàn.

“Hồi đó đúng là tôi có gây cho lớp nhiều rắc rối. Cũng lâu rồi, cứ im lìm như vậy thì đúng là không hay nên cho xin lỗi một lần nữa vậy: Tôi xin lỗi.”

Nói xong cậu ta cúi đầu.

Trông cái mặt cam chịu ấy làm tôi càng phát nản. Lẽ nào cậu ta lại thích đùa quá mức như thế? Chúng tôi đâu phải mới quen mới biết? Cậu ta nghĩ rằng hơn mười năm không giúp tôi nhìn thấu cái trò trẻ con này sao? Cái trò cúi đầu này rõ là muốn nhanh kết thúc đối thoại đây mà.

“Tôi không có mong cậu xin lỗi. Thôi thì, hỏi thế này thôi – tại sao lại làm thế?”

“Ưm, tại sao à…”

Oreki im lặng trong một chốc.

“Mỗi người mỗi khác, và không phải ai cũng làm đẹp được như cậu.”

“Tôi đã biết cậu dở từ lâu rồi. Vậy là định chống chế rằng một nhánh dây thõng xuống bị biến thành thẳng là do tay nghề của cậu sao?”

Nếu cậu ta mà “ừ” một cái chắc sẽ bị tôi quát “Vớ vẩn!” vào mặt mất. Hình khắc kì lạ của Oreki chắc chắn không phải do kỹ năng, có chăng chỉ phải là do lười.

“Có một lý do khác, nhưng giờ tôi chẳng nhớ nổi.”

“Không nhớ à?”

“Lúc đó trong đầu chỉ nghĩ tới thi cử mà thôi. Chỉ là một kỉ niệm tốt nghiệp nên có cố sức cũng chả được ai công nhận, thế nên cứ làm đại cho xong… Không nhớ rõ lắm, nhưng có thể tôi đã nghĩ vậy.”

‘Hả?”

Tôi rướn người về phía trước để xem xét kỹ lưỡng cái người trước mặt.

“Ý cậu là bởi vì lo học thi mà cậu không thèm để ý tới việc đó sao? Chỉ thế thôi?”

Tôi không thể chỉ ra đó là lời nói xạo hay không. Thật đáng thất vọng. Tuy nhiên vẫn có thể đọc một chút từ vẻ mặt của cậu ta. Một Oreki thiếu kiên nhẫn đang bắt đầu nao núng.

“…”

Biểu cảm của Oreki chợt thay đổi.

Ai cũng sẽ thấy ngại khi bị người khác nhìn thẳng mặt như thế. Sẽ rất là khó chịu, tôi cũng thế thôi.

Tuy nhiên không vì những lý do đó, chỉ một thoáng thôi mặt cậu ta ửng đỏ lên.

“Oreki.”

“Cái gì?”

Gọi thế nhưng tôi vẫn chưa nghĩ ra cái gì để nói.

“Mặt cậu đỏ à? Tại sao mặt lại đỏ thế? Giận à?”

Cứ thế, tôi cố gắng dùng mọi cách để khơi chuyện từ Oreki, thậm chí còn thúc chỏ vài cái nhưng cậu ta cứ lặp đi lặp lại “Tôi quên rồi” và “Không nhớ”, không thỏa hiệp với mọi giá.

Trong trường hợp này, tôi đành phải quẳng cậu ta qua một bên vậy.

Nếu có thể tìm ra sự thật về chuyện đó, Oreki sẽ không còn đường thoát và có thể đi đến thú thật. Nhưng bằng cách nào bây giờ? Tối đó, tôi lại ngồi vào chiếc bàn học mà hết suy đi rồi tính lại…

Cuối cùng, tôi quyết định rằng hỏi một người bạn đã từng chung nhóm với Oreki là chiến lược tốt nhất.

Chẳng thể nhớ ai đã ở trong nhóm của cậu ta, và những lúc thế này kỉ yếu mới thể hiện được giá trị của nó. Ngoài tấm hình chụp chung cả lớp cuốn album còn chứa cả những tấm riêng của lớp 3-5. Không biết những lớp khác thế nào chứ ở lớp tôi mỗi nhóm sẽ chụp riêng môt tấm. Rốt cuộc những tấm hình đó bây giờ đã có người thèm xem.

Tôi lấy quyển kỉ yếu ra khỏi kệ sách, đặt lên bàn rồi mở ra những trang của lớp 5. Dù thợ chụp hẳn là đã bảo chúng tôi cười nhưng cái mặt u ám của Oreki chắc là không biết cười. Có năm học sinh khác đứng cạnh cậu ta. Chỉ cần một trong số họ học ở trường Cao trung Kamiyama thì tôi sẽ tìm được câu trả lời cho mình.

“A… đây!”

Tìm thấy rồi. Tôi gõ ngón tay vào một người trong tấm hình.

Kei Shibano. Một cô bạn có tính cách thất thường, dễ bị làm cho sầu não và suốt ngày than rằng “Mình phải giảm cân thôi”. Hồi đó cậu ấy quả là có mũm mĩm một chút nhưng tôi không thấy đó là mức đáng để phải lo lắng.

Tôi khá thường xuyên thấy cậu ấy trong trường Kamiyama. Chúng tôi thậm chí còn học chung với nhau trong những tiết thể dục năm trước. Đây quả là vận may vì Shibano là người rất dễ bắt chuyện. Tôi không biết cậu ấy học ở lớp nào nhưng đó không phải là vấn đề. Chỉ chờ đến ngày mai mà thôi, còn bây giờ hãy tạm để chuyện qua một bên vậy.

Hiếm khi có cơ hội để xem kỉ yếu như thế này thì chả có lí gì lại không nhòm qua Fuku-chan một chút. Nghĩ vậy tôi lật qua trang bên. Khi tìm thấy ‘Satoshi Fukube’ phiên bản năm-ba-sơ-trung, tôi để vuột ra một tiếng cười lớn.

“Hahaha! Bé tí à!”

Fuku-chan bây giờ cũng chẳng ít giống một cô bé hơn lúc ấy chút nào. Khó mà thuyết phục người ta tin cậu ấy đang là học sinh cao trung năm hai. Tuy nhiên, không khó để thấy trong bức hình này rằng cậu ấy đã thay đổi. Tôi cũng thế.

Ôi. Vậy là no mắt rồi, lấy bài ra học nào!

Ngày hôm sau, từ hai người bạn tôi biết Shibano đang học ở lớp D. Dễ hơn là tưởng tượng. Biết từ cuối tiết ba nhưng tôi quyết định chờ đến nghỉ trưa tới đi tìm cậu ấy.

Tôi không mang bento[7] để ăn trưa. Thật ra, nửa thời gian trong năm tôi chẳng bao giờ thấy đói vào buổi trưa cả. Fuku-chan đã từng bảo rằng “Vì cậu ăn nhiều vào bữa sáng thôi”. Một mặt thì nghe cũng có lý, mặt khác nó khiến tôi có cớ để đá cậu ấy vài cú. Sau vụ đó tôi trở nên thường xuyên bỏ bữa.

Đến cửa phòng học lớp D và nhanh chóng nhận ra Shibano đang ngồi ăn trưa, tôi bèn đợi ở ngoài hành lang và khi đến thời điểm thích hợp mới đi vào. Làm học sinh bao nhiêu năm rồi nhưng tôi vẫn không tránh khỏi một nỗi lo khi bước vào phòng học lớp khác.

“Hửm? Ibara đấy à? Chả thấy cậu qua đây bao giờ. Tìm ai à?”

“Ừm, đúng thế.”

“Vậy cậu tìm ai? Có cần tớ giúp không?”

“Thật ra tớ muốn hỏi cậu vài thứ. Cậu có phiền không?”

Shibano không cảm thấy lạ mà chỉ vui vẻ đồng ý,

“Tất nhiên là không rồi! Qua kia nói chuyện nhé.”

Shibano và tôi kiếm ra chỗ ngồi cạnh cửa sổ. Ai đó vừa mở cửa khiến một làn gió lạnh lùa vào khắp phòng. Tôi không thể không cảm thấy mình cùng từng nói những lời này hồi sơ trung – thứ kỉ niệm lạ thường này làm đầu tôi nhói lên một cái.

“Chuyện gì nào?”

“Chủ nhật rồi tớ gặp Ikehira.”

“Ồ, Ikehira ấy hả? Hoài niệm quá ha. Nghe nói cậu ấy đang chơi trong một ban nhạc phải không?”

Tôi hơi bất ngờ về điều đó.

“Cậu cũng biết à? Có vẻ ban nhạc của cậu ấy đang gặp khó khăn trong việc kiếm ca sĩ.”

“Hửm?” Shibano hơi nhướn mày.

“Vậy là cậu tính hát cho họ hả Ibara? Hay là đang giúp kiếm ca sĩ mới?”

Có lẽ cậu ấy muốn giúp Ikehira nhưng lại sợ cái khoản hát hò. Tôi nhanh chóng vẫu tay mà nói:

“Không, không. Không phải vụ đó. Tụi này nói về cái tác phẩm hồi tốt nghiệp cơ. Cậu nhớ mà phải không, cái khung gương ấy?”

“… À, rồi…”

Như đã hiểu vấn đề, Shibano đưa mắt về một hướng khác.

“Tới bây giờ vẫn còn bàn về vụ đó cơ à? Ừ, là cậu thì cũng dễ hiểu thôi.”

Làm sao để câu có thể đặt câu hỏi đây? Không có nhiều lựa chọn. Tuy nhiên, rốt cuộc thì tôi vẫn xem cái cách nói thẳng vẫn là hay nhất. Tôi chưa hề thích tỏ ra thông thái, hay vòng vo tốn thời gian.

“Vậy lúc đó đã xảy ra chuyện gì?”

Điều tôi ghét hơn là ép người ta phải trả lời một câu chấn vấn, vậy nên tôi giải thích.

“Tớ đang ở CLB Cổ Điển. Oreki cũng vậy. Khi nhắc tới cậu ta thì Ikehira đột nhiên đổi thái độ. Tớ cũng chẳng mong một phản ứng đỡ hơn thế.”

“À, là về Oreki. Ừ, đúng thế. Hẳn là còn vài người chưa hết khó chịu.”

“Nhưng tớ đã nghĩ về điều đó, và tự nhiên thấy nó kì lạ sao ấy.”

Giọng tôi đã từ từ cao lên mà không hề hay biết.

“Nói về Oreki, thì cứ như cậu ta luôn chỉ quẩn quanh trong thế giới của riêng mình, và vì thế không thích làm việc trong một thế giới khác đúng không?”

“Tớ không nói chuyện với cậu ta nhiều, nhưng đúng, tớ cũng nghĩ cậu ta là kiểu như thế.”

“Nhưng tớ không nghĩ cậu ta là một người cố tình lười biếng vào những lúc như vậy… Cậu còn nhớ cái hồi Hội thao trường mình không? Osada hay ai đó bảo là bị đau bụng nên cả đội chạy tiếp sức cứ loạn cả lên.”

Shibano gật đầu, một biểu cảm cay đắng xuất hiện trên gương mặt.

“Dĩ nhiên là nhớ rồi. Tớ là người phải chạy thay cậu ấy mà.”

“Vậy sao? Osada lúc nào cũng cố gắng giúp người khác mà chẳng thèm nghĩ chi cho thấu đáo. Hồi thi hợp xướng cũng thế.”

Thôi chết, chúng tôi đã lan man về những kỉ niệm hồi sơ trung mất rồi! Giờ nghỉ trưa vô cùng ít ỏi nên tôi cần phải dừng lại để bẻ lái cuộc trò chuyện về đúng chủ đề ban đầu.

“Tạm thời kệ cậu ấy đi vậy.”

Tôi khẽ thở dài và hỏi:

“Điều tớ không hiểu là, tại sao Oreki lại là người duy nhất phải khắc gỗ? Đó là việc của cả nhóm mà? Nhưng những gì tớ nhớ thì Oreki là người duy nhất giao ra miếng gỗ vào ngày hôm đó và nhận tất cả sự rủa xả. Chính xác chuyện gì đã xảy ra?”

Oreki không giỏi trong những chuyện này, không cần cậu ta nói tôi cũng biết. Điều mà tôi không hiểu là tại sao cậu ấy lại là người đảm nhiệm việc đó. Trong nhóm tôi thì Mishima và tôi là những người lo việc khắc gỗ. Nếu Oreki mà ở trong nhóm tôi thì cậu ta chẳng cần phải đụng tới con dao ấy chứ.

Câu hỏi này dường như đã gãi đúng chỗ ngứa của Shibano và tôi thật lòng mong như vậy. Cậu ấy không thể nói lời nào, còn sắc mặt thì cứng đơ. Tôi không định đổ lỗi cho Shibano hay bất kì ai khác trong nhóm, nhưng cách hỏi có thể đã làm cậu ấy hiểu lầm…

Dù vậy Shibano vẫn có thể đáp:

“Nếu cậu đã hỏi thì tớ cũng nói thật, đó là ý định của chính Oreki.”

“… Hả?”

“Cậu ấy bảo rằng biết một người có thể giúp hoàn thành việc này nhanh chóng, rồi lấy cả miếng gỗ và bản thiết kế về mình. Tụi này đã tin theo… Nói thế này có vẻ khó nghe, nhưng… khi Oreki nói vậy tụi này thực sự đã rất vui mừng mà đẩy mọi trách nhiệm cho cậu ấy.”

Chẳng khác tình trạng của nhóm tôi là mấy. Ngay khi nghe chúng tôi bảo “Con trai không có làm được đâu”, tụi nó đã để mặc cho chúng tôi một mình làm tất.

“Nên…”

Một tiếng thở dài.

Nếu còn học sơ trung Shibano sẽ không đời nào biết thở dài như thế.

“Nên… nói thật tụi này có lẽ nợ Oreki một lời xin lỗi.”

“… Ra là thế.”

Gật đầu nhưng tôi không định bảo Shibano đi xin lỗi. Cậu ấy có hiểu lầm không nhỉ? Chỉ nhìn sắc mặt thì chẳng biết nổi.

Mùa đông năm ấy Oreki đã một mình giao ra tấm gỗ. Đó không phải công việc giành cho một người. Như vậy là tôi đã đoán đúng, cậu ấy thực sự đã nhờ ai đó hay đại loại vậy.

Tôi còn một câu hỏi khác.

“Vậy người mà Oreki bảo rằng ‘có thể giúp’ là ai?” Hỏi vậy nhưng tôi không mong nhận được câu trả lời. Shibano và Oreki chắc chắn không thể gần gũi hay thậm chí là làm bạn. Cậu ta không chịu nói với ai cũng là điều nằm trong dự đoán.

Xem ra mấu chốt nằm ở người thứ ba trong câu chuyện này rồi đây. Nếu hỏi là ai thì trong đầu tôi chỉ hiện lên có một, đó là những đứa con trai hiềm hoi từng đánh bạn được với Oreki. Tôi chỉ biết có Fuku-chan… Nhưng, Oreki mà tin tưởng để cho Fuku-chan giúp á?

Trong lúc suy nghĩ tôi thấy Shibano tỏ ra lưỡng lự. Đã không có một câu trả lời “Tớ không biết” mà thay vào đó, là:

“Asami Toba.”

“Ai cơ?”

“Một bạn nữ tên là Asami Toba. Đó là người mà Oreki đã nhắc tới.”

Tên của một người lạ. Có lẽ là một người tôi chưa từng gặp trong suốt ba năm sơ trung. Hay là tôi đã quên nhỉ?

“Tớ nghi là bồ của cậu ta.”

Ưm… thực sự là nhớ chẳng ra. Dù trường Kaburaya có ít học sinh hơn hẳn so với trường Kamiyama nhưng con số ấy vẫn trên hai trăm. Có lẽ là mình chưa gặp thật… ớ?

Ngay lúc này, tôi cuối cùng cũng nhận thức được sự tồn tại của những từ ngữ đó.

“Khoan đã, cậu vừa nói gì?”

“Bồ.”

Không thích tự kể lể về mình, nhưng, vào lúc đó, xin phép cho tôi được tái hiện sâu sắc thế quái nào mình lại phản ứng theo một cách khó có thể xấu hổ hơn được nữa. Ngay khi nghe về sự tồn tại của một thực thể mà chỉ nên dùng như một trò giỡn vô lý đến nực cười, tôi đã thét lên “CÁI GÌ!!?” lớn tới mức làm cả lớp người ta im bặt.

Thật là bất ngờ về mình quá đi.

Mọi học sinh trong lớp D bấy giờ chỉ còn biết nhìn vào tôi. Nhanh chóng tôi lấy một tay bụm miệng lại. Không hay rồi, đang giờ nghỉ ngơi mà lại náo loạn. Cơ, nhưng mà, làm sao có thể? Hai đứa có còn đang nói về Oreki không vậy?

Nhận ra tôi vẫn chưa hoàn hồn sau cú sốc, Shibano hạ giọng xuống mà nói: “Có một lần khi tớ hỏi Oreki rằng miếng gỗ đã xong chưa, thì cậu ấy trả lời ‘Còn tùy vào Asami’. Rồi tớ hỏi tiếp là: ‘Asami, ý cậu là Asami Toba đó hả?’ thì cậu ấy tỏ vẻ bất ngờ thấy rõ. Cậu ấy nói rằng đã không nghĩ rằng tớ biết Asami là ai, cậu ấy nghĩ là không ai biết cả.”

“Ưm, thế à, nói sao đây nhỉ… Trí nhớ của cậu tốt thật.”

Đó không phải những gì tôi thực sự muốn nói.

“Tớ cũng bất ngờ khi nghe tên của Asami từ miệng cậu ta, và cũng hết hồn khi biết rằng Oreki hóa ra cũng có người mến. Nhưng mà…”

Shibano nở một nụ cười ranh ma.

“… chưa bất ngờ bằng cậu bây giờ.”

Sau đó cậu ấy lùi một bước khỏi tôi, ám chỉ rằng cuộc trò chuyện nên dừng lại tại đây. Tôi liếc nhìn đồng hồ. Giờ nghỉ trưa sẽ kết thúc sau năm phút nữa.

“Nếu muốn tìm Asami thì cậu có thể ghé qua CLB Nhiếp Ảnh. Từ khi vào trường tới giờ tớ chưa nói chuyện với cậu ta lần nào cả, nhưng đã thấy vài tấm hình hồi lễ hội Kanya.”

Khựng lại một chút, Shibano mỉm cười thêm vào.

“Nhưng nếu muốn biết Asami thực sự ở đâu thì Oreki hẳn là biết rồi chứ, đúng không nào?”

Nếu muốn hiểu lý do đằng sau miếng gỗ khắc dối ấy thì Asami Toba sẽ là một nguồn thông tin quan trọng.

Dù vậy tôi đã không chạy ù tới CLB Nhiếp Ảnh sau giờ học. Thay vào đó, tôi lại phóng lên phòng Địa Chất, nghe rõ độ lớn của từng tiếng bước chân khi leo lên những bậc cầu thang. Khốn thật Oreki à, cứ chờ xem tôi sẽ làm gì với cậu! Những ý nghĩ như “Dù có lên phòng nhưng chắc gì Oreki có mặt ở đó” hay “Sẽ làm gì với cậu ta bây giờ?” lấp một góc trong tâm trí, nhưng tôi cố gạt hết qua một bên khi chân đã bước lên tầng bốn dãy Chuyên biệt. Cánh cửa phòng Địa Chất mở ra nghe một tiếng “xoạch” to tướng.

Oreki có trong phòng, ngồi ở cái ghế quen thuộc của mình.

Nếu cậu ta ở một mình thì tôi đã có thể kẹp cổ và tha hồ xiết cho tới khi đối tượng chịu khai. Nhưng tiếc là không được. Ngồi đối diện với Oreki là một Chi-chan đang mỉm cười. Nhận ra tôi vừa bước vào phòng, cậu ấy giơ cánh tay thon thả lên.

“Ôi, Mayaka-san! Thật là đúng lúc quá! Tớ vừa được nghe một câu chuyện rất có ý nghĩa.”

Đừng nói chuyện khác bây giờ Chi-chan ơi! Nghe tớ nè! Cái… cái tên đó! Hắn…!

Gắng không để những lời đó thoát ra khỏi miệng, tôi hít vào một hơi rất sâu…

Bình tĩnh nào Ibara Mayaka, mày vẫn chưa có chứng cứ rõ ràng cơ mà.

“Ô, là về gì thế?”

“Một trải nghiệm của bà chị tôi khi đi du lịch. Không biết có nên coi là một hành động anh hùng không nữa… Cứ tạm coi đó là một câu chuyện kì cục đi.” Oreki đáp.

Bản mặt rầu rĩ thông thường bỗng trở nên có cảm xúc khi cậu ta nói thế. Dường như vừa nảy ra một ý tưởng gì đó, Chi-chan đặt hai tay lên ngực mà nói:

“Oreki-san, cậu cũng kể cho Mayaka-san nghe nhé. Từ đầu luôn nhé.”

“Từ đầu á?” Oreki đáp đầy đau khổ.

Nhưng Chi-chan dội lại bằng chất giọng đầy hào hứng.

“Đúng thế, từ đầu luôn ấy! Hiểu rõ ngay từ đầu mới làm cho câu chuyện đầy ý nghĩa chứ! Và còn…”

“Còn gì?”

“Thực ra, có vài chỗ trong câu chuyện làm tớ hiếu kỳ…

Vai Oreki thõng xuống, dấu hiệu của sự chịu thua.

“Vậy làm sao để kể lại từ đầu đây…”

“Xin cậu đừng bỏ qua bất kì chi tiết nào chỉ vì đây là lần thứ hai là được.”

Rõ là cậu ta đã định lược đi vài chi tiết. Oreki bấy giờ chỉ biết nhìn Chi-chan với ánh mắt đầy trách móc.

Thấy Chi-chan cười trở lại là một điều tốt. Sau tất cả những gì đã xảy ra từ khi chúng tôi lên năm hai, tôi lại càng cảm thấy đây là một tin lành.

… Làm sao có thể nói về ‘bạn gái’ của Oreki trước mặt Chi-chan cơ chứ?

Nói cho các bạn nghe, có một tỉ lệ rất cao rằng Shibano đã bé cái nhầm. Nếu phải mô tả sự đần đụt của tên Oreki ra làm sao ấy, thì tôi xin mạn phép thí vụ như vầy : Nếu có một cô gái đẹp tuyệt trần đứng ngay trước mặt, chỉ vào mình mà nói “Tui”, chỉ vào ngực và nói “Thích”, và rồi chỉ vào Oreki mà nói “Bạn”, thì hắn sẽ cần ít nhất vài phút để hiểu ra câu nói đó có nghĩa là gì. Kì tích nào có thể làm tôi tin rằng Oreki đang bí mật hú hí thù thì với một ai đó bây giờ?

Chương 4[sửa | sửa mã nguồn]

Tối đó tôi gọi điện cho Fuku-chan.

Câu chuyện của Oreki là một đề tài thú vị đến không ngờ. Cậu ấy nói hết từ cái rủi ro này tới sự cố kia, nhưng, hơn hết Fuku-chan chẳng chịu ghé qua phòng Địa Chất. Lần gần nhất tôi thấy cậu ấy là vào thứ bảy…

Ông trời thấy ghét, đã ba ngày rồi đó!

Chọn cái tên luôn nằm trên cùng trong danh sách nhớ, trước khi chuông điện thoại kịp reng tiếng đầu tiên tôi đã nghe giọng của Fuku-chan.

“Hì yá!”

“Ôi, nhấc máy nhanh vậy?”

Tôi có thể nghe thấy tiếc khúc khích từ đầu dây bên kia.

“Định gọi cho cậu đây Mayaka à. Ai biểu gọi ngay lúc người chuẩn bị nhấn nút chứ?”

“Ra là thế.”

Tôi nhảy lên giường rồi nằm xuống.

“Cậu biết không, hôm nay tớ biết được một chuyện lạ lắm.”

“Hửm? Chuyện gì vậy?”

Liếm môi một cái, tôi trả lời: “Asami Toba. Cậu biết cái tên này không?”

Có một khoảng lặng. Tôi có thể hình dung ra vẻ mặt khó hiểu của Fuku-chan lúc này.

“Ừ, có. Hình như bên CLB Nhiếp Ảnh thì phải. Có môt lần hội trưởng bên ấy gặp một phen đau đầu với cậu ta. Anh ấy bảo rằng chẳng hiểu vì sao, mà bất chấp cậu ta luôn từ chối tham gia bất cứ cuộc thi nào của học sinh.”

“Fuku-chan biết cả hội trưởng CLB Nhiếp Ảnh à?”

“Ừ, tớ biết…”

Cậu ấy biết một người mà tôi không biết, tự dưng điều đó làm tim tôi chùng xuống một nhịp. Ghét ghê. Tôi thở dài, đuổi sạch những thứ cảm giác đó trước khi hỏi tiếp.

“Nghe này. Hình như Toba-san cũng tốt nghiệp từ trường Kaburaya đó.”

“Ừm, đúng là như thế.”

“Cậu có biết gì về cậu ấy không?”

Có người đã nói đó là bạn gái của Oreki-san. Nếu… trong một cơ hội tí ti nào mà điều đó là đúng, hẳn Fuku-chan ít nhiều phải do dự chứ nhỉ?

Thực ra có một phương pháp để moi móc thông tin từ Fuku-chan. Đầu tiên là phải khởi động bằng một chủ đề trông không mấy đặc biệt, sau đó thêm vào từng chút một các câu hỏi để đào sâu nhưng phải thật tự nhiên. Cứ như là chơi trò chơi vậy.

Và lời đáp của Fuku-chan vẫn theo một lộ trình thường thấy và dễ đoán. Tôi chắc là người duy nhất có thể nhận ra giọng của cậu ấy đã nặng nề hơn đôi chút.

“Ừ thì tớ cũng biết chút đỉnh về cậu ấy. Có lý do đặc biệt để phải tìm tới Toba-san sao Mayaka?”

“Ừm, cũng có thể nói thế. Cậu sắc bén thật đó.”

“Dĩ nhiên rồi… Nhưng nếu vậy thì cậu nên cẩn thận một tí.”

Vì tông của Fuku-chan đã chuyển sang một sắc thái nghiêm trọng, tôi lập tức ngồi dậy.

“Toba-san có thành kiến với tất cả học sinh đến từ sơ trung Kaburaya cùng năm với cậu ấy. Nếu cậu muốn có một cuộc trò chuyện thân tình thì tốt nhất là đừng mang những cái gì liên quan tới hồi đó ra.”

Tại sao? Tôi muốn hỏi thế.

Nhưng Fuku-chan đã ngăn không cho tôi kịp lên tiếng. Chỉ sau một khắc giọng cậu ấy đã trở nên hứng chí: “Mà thôi, kệ đi. Tớ muốn nói vụ này nè. Chủ nhật này tớ…”

Sự nhiệt huyết của Fuku-chan không cho tôi cơ hội được chen vào. Ban đầu có hơi miễn cưỡng, nhưng nhanh chóng tôi đã từ bỏ việc để câu hỏi của mình được trả lời.

Chúng tôi không có nhiều thời gian trên điện thoại. Dĩ nhiên là tôi cũng muốn nói về những thứ vui hơn với Fuku-chan rồi.

Học ở cao trung Kamiyama đã hơn một năm nhưng tôi vẫn bất ngờ khi biết được rằng có cả một căn phòng tối[8] trong trường. Phòng này nằm kế bên phòng Trù bị Hóa Học, và vì thế nó cũng trở thành phòng họp của CLB Nhiếp Ảnh.

Sau cuộc nói chuyện với Fuku-chan hồi tối qua, nhờ quyển kỉ yếu tôi đã biết được Asami Toba trông như thế nào. Ngoại trừ cặp kiếng thì chẳng có gì có thể gây chú ý từ cậu ấy. Nếu phải nói một điều về thì trông cô có vẻ hơi gầy. Ngoài ra, khi so sánh với tấm hình chụp trong nhóm tôi mới nhận ra rõ ràng một điểm kì lạ.

Trong hình, cậu ấy không cười.

Thôi thì biết được mặt cũng tốt. Khi đến phòng Trù bị Hóa học tôi nhận thấy Asami Toba không ở đó. Người duy nhất trong phòng là một nam sinh có mái tóc xoăn tự nhiên. Dựa vào phù hiệu đính trên cổ áo để biết đây là học sinh năm ba, tôi lên tiếng hỏi anh về việc muốn gặp Asami Toba.

“Ồ, Toba-san à?”

Anh ấy khựng lại, gãi đầu rồi hỏi: “Có gấp không?”

Đây không phải là việc gấp với tôi. Dù đằng sau miếng gỗ của Oreki có sự tình gì thì nó cũng đã kết thúc từ gần hai năm trước. Dù thật lòng muốn biết càng sớm càng tốt nhưng… có thể nói là tôi chưa sẵn sàng để kết thúc tất cả chỉ trong hai ngày.

“Không sao ạ. Nếu không tiện thì khi khác em sẽ đến.”

Tôi đồ rằng Toba-san đang ở trong phòng tối, nhưng lại nghe được anh nam sinh năm ba lầm bầm “Kệ, sao cũng được.” Rồi tươi tỉnh trở lại, anh nói với tôi:

“Em ấy đang ở trên sân thượng.”

“Sân thượng?”

Với câu hỏi đó, tôi tự thấy mình như một con vẹt vừa học được một từ mới.

Dù phải tới hôm nay mới biết đến sự tồn tại của một cái phòng tối, nhưng tôi chắc rằng trong trường chẳng có cái cầu thang bình thường nào dẫn lên sân thượng cả. Phòng họp CLB Cổ Điển vốn nằm ở tầng trên cùng. Để từ đó mà lên sân thượng phải trèo lên một cái thang sắt. Đầu trên của thang là một cánh cửa cũng bằng sắt trông rất chắc chắn. Dù chưa từng trèo lên nhưng tôi biết cánh cửa đó bị khóa.

“Ừ, sân thượng. Đừng nói với ai nhé… em ấy có chìa khóa.”

Chiếc chìa ấy được lưu truyền trong CLB Nhiếp Ảnh hay là của riêng Asami Toba nhỉ? Tôi không bỏ thời gian quan tâm tới câu hỏi đầy nghi hoặc đó. Cảm ơn xong, tôi liền phóng qua dãy hành lang quen thuộc hướng về khu Chuyên biệt. Không phải vì háo hức muốn gặp Toba-san mà vì chẳng mấy khi có cơ hội được lên sân thượng.

Nói thế này chắc là ngớ ngẩn, nhưng nếu liệt kê ra những thứ thích nơi cao thì chắc chắn có hai thứ - khói và Ibara Mayaka tôi đây.

Lên đến tầng bốn tôi nhận ra phòng Địa Chất đang khóa. Không có ai à? Oreki đã xuất hiện hai ngày liền nên chắc là hôm nay cậu ta đã về từ sớm. À, có lẽ cũng sắp tới lúc Fuku-chan đến đây rồi. Tí nữa tôi sẽ quay lại kiểm tra.

Tôi dừng ở chân cầu thang. Cái thang hóa ra chỉ được để tựa vào bức tường sơn màu trắng. Luôn thấy nó ở đó nhưng dĩ nhiên là tôi chưa từng thử trèo lên. Ngẩng đầu, tôi thấy cánh cửa sắt đang được để mở hé. Có người trên đó.

“… Được rồi.”

Tôi hơi nắm bàn tay lại, lấy tinh thần trước khi nắm chặt vào bậc thang.

Không có luật thành văn nào cấm lên đây nhưng không khó để tự hiểu sân thượng là một nơi không chào đón học sinh. Mặt khác, dù chưa từng dành cho sự quan tâm đặc biệt nào nhưng tôi vẫn nhớ là không có thanh chắn nào trên sân thượng trường Kamiyama cả. Nếu giáo viên bắt gặp học sinh lảng vảng trên đây thì rõ là người đó sẽ bị kỉ luật nghiêm, và số phận của chiếc chìa khóa CLB Nhiếp Ảnh đang sở hữu chắc không cần phải nói. Nghĩ về việc này tôi lại càng leo lên nhanh hơn.

Như đã lường trước, leo lên một cái thang dựng đứng cần khá nhiều sức ở cơ vai. Những thanh ngang như ngày càng ép chặt vào bàn tay của tôi. Người lên trước đã không để lại dấu nhiệt nào ở đây. Từng bước tôi cảm thấy nhiệt độ hai bàn tay mình bị mất từng phần một và điều đó chẳng dễ chịu chút nào.

Cố gắng không bật thành tiếng, vừa leo tôi vừa hô “Hây dô hây dô” trong lòng. Cái thang chỉ có mười thanh. Dù mất không ít sức nhưng nhanh chóng tôi cũng leo lên hết. Đẩy nhẹ một cái cánh cửa sắt mở ra dễ dàng. Hên là chẳng gây ra tiếng động, tôi thở phào nhẹ nhõm.

Vậy ra… đây là sân thượng.

Chẳng có lao công nào lên đây nên trên nền đất chi chít là những vết xỉ đen. Trước mắt tôi là một cô gái đang đứng bên một cái giá ba chân. Tuy nhiên, cô không nhìn vào máy chụp hay thậm chí cử động để thay đổi góc máy. Cô gái chỉ đứng ngây ra đó.

“… Toba-san?”

Vì cảnh cửa sắt không gây tiếng động nên cô gái không nhận ra sự xuất hiện của tôi. Tôi quan sát con người đang từ từ quay đầu lại, nhìn thẳng vào tôi với đôi mắt đen như than.

“Cậu là ai?”

Ngay lúc ấy tôi như có thêm một bài học, rằng chỉ ba từ đã có thể gia tăng sự căng thẳng lên người đối diện như thế nào.

Không nghi ngờ gì người ấy là Asami Toba. Gương mặt chẳng thay đổi chút nào so với trong kỉ yếu.

Tuy vậy tôi vẫn không thể không tự hỏi rằng: Có thật là Asami Toba không? Nhìn trong kỉ yếu cậu ta có thể được miêu tả là “thiếu tính cách”. Một kiểu người mà bạn sẽ quên dù cho có từng đi ngang qua trên một hành lang vắng – đó là những gì tôi đã nghĩ khi nhìn vào gương mặt vô cảm trong cả hai tấm hình. Nhưng người đang ở trên sân thượng lúc này không còn như thế. Dường như tồn tại một bức tường xung quanh dáng người nhỏ bé kia nhằm đánh bật lại bất kì người nào mình không thích – đó là tôi. Không còn một sự thụ động nào hết. Bấy giờ thứ tôi cảm nhận được chỉ là sự trấn áp.

Sau một hồi tôi mới nhận ra cô ấy không còn đeo kính.

Tôi bắt đầu thấy hối hận khi bước vào lãnh địa người khác với một sự hớn hở như vậy. Nhưng đã quá trễ để quay lui. Từ sâu trong dạ dày tôi cố triệu ra một chút bình tĩnh và một xíu dũng khí.

Rồi lên tiếng.

“Tớ là Ibara Mayaka lớp 2-C. Cậu là Asami Toba-san phải không?”

Bị gọi tên, cậu ấy cảnh giác chuyển mắt về hướng khác.

“Hội trưởng bảo cậu lên đây à.”

“Không biết có phải hội trưởng không, nhưng cái anh năm ba tóc quăn đã nói cho tớ về nơi này.”

“Cái đồ…” Cậu ấy lầm bầm đầy bực dọc.

“… vậy, đã biết tôi là ai thì cậu muốn gì?”

“Ưm.”

Nói chuyện dưới bầu trời rộng khiến khoảng cách giữa tôi và Toba-san có vẻ dài ra. Tôi bèn bước tới gần một bước.

“Tớ muốn hỏi cậu vài chuyện. Giờ có được không?”

Một nụ cười mỉa mai xuất hiện nơi khóe môi.

“Đã lên tận đây rồi mà còn hỏi câu đó sao?”

Đúng thế.

“Không thành vấn đề. Muốn hỏi gì cậu cứ hỏi.”

Tôi nhớ tới cảnh báo của Fuku-chan, không được nói về chuyện hồi sơ trung. Nhưng đâu còn lựa chọn nào khác?

“Về cái tác phẩm tốt nghiệp.”

“… Cậu đang nói về cái gì?”

“Kỉ niệm ở trường sơ trung Kaburaya. Cái khung gương ấy.”

Tôi có thể thấy toàn thân cậu ấy như đông cứng. Nghe tới bốn chữ “Kỉ niệm tốt nghiệp” đã làm Toba-san có một phản ứng hiển nhiên. Dù không đọc được đó là gì nhưng tôi hoàn toàn thấy được sự lo âu trong đôi mắt của Toba-san đã tăng lên. Phải ra hết những con bài trước khi cậu ấy có thể từ chối. Tăng âm lượng lên, tôi nói:

“Không chắc Toba-san có biết không, nhưng trong thời gian ấy có một tên con trai đã tự mình làm cho cả khối ghét cậu ta, đó là Oreki Houtarou ở lớp 5. Cũng vì miêng gỗ được khắc quá cẩu thả đó mà Takasu-san, người chịu trách nhiệm thiết kế đã khóc lóc không thôi. Nhưng… dù vậy tớ vẫn cảm thấy có gì đó kì lạ. Oreki là đồ lười , nhưng cậu ta sẽ không cố tình phá hủy tất cả công sức của cả tập thể học sinh năm ba và là nơi lưu trữ mọi kỉ niệm của chúng ta. Cậu ta không vị kỉ đến mức đó. Vậy nên tớ đoán là cậu ta đã che giấu sự thật. Trong quá trình tìm hiểu thì tên của cậu đã được nhắc đến Toba-san à. Oreki, Toba-san và miếng gỗ khắc dối ấy – cái gì liên kết ba chủ thể này lại? Hay là vốn chẳng có liên hệ gì?”

Nghe xong câu hỏi của tôi Toba-san mỉm cười. Không một chút thân thiện hay ấm áp. Nụ cười trên gương mặt lạnh tanh của Toba-san như muốn nói: Mày chả biết cái gì cả, nên mới hỏi một câu nực cười như thế.

Sân thượng lặng gió, không khí ấm và thời tiết thì thật dễ chịu. Vậy mà dường như đang có vài cái gai trên xương sống của tôi.

“Nếu tìm ra thì cậu sẽ làm gì?”

Toba-san hỏi. Chuyện đã qua lâu rồi, xong rồi phải không? Ý cậu ta chắc là vậy.

Không, chưa xong đâu.

“Tớ sẽ đi xin lỗi.”

Nhướn mày, Toba-san lặp lại: “Đi xin lỗi?”

“Ừ. Xin lỗi.”

“Tới ai?”

“Quá hiển nhiên rồi… là Oreki.”

Tất cả mọi người trong lớp đều đã đổ tội cho Oreki vì tội tắc trách, liên tục bắt cậu ấy chịu trách nhiệm vì đã làm hỏng bét kỉ niệm cuối cùng của đời học sinh sơ trung. Từ đó đến tận ngày tốt nghiệp Oreki lại càng xa cách lớp hơn nữa.

Cậu ta chỉ còn một chốn là thư viện… Và dù cũng ở đó nhưng chưa tới một lần tôi thèm hướng mắt về cậu ta.

Rồi tôi cũng tốt nghiệp và hạ cánh an toàn vào cao trung. Một lần nữa chạm mặt trong thư viện cậu ta cũng không khiến tôi quan tâm lấy một chút. Oreki là một tên sống vô mục đích, không đáng tin cậy và vì thế chẳng xứng làm bạn với Fuku-chan chút nào khi chưa hiểu hết tôi thật sự đã tin là vậy.

Và tất cả chỉ tại một nhành leo được khắc ngang đuột. Nếu đó là kết quả của sự lười biếng thì mọi học sinh năm ba đều được quyền khinh ghét cậu ta…

Nhưng, nếu không thì sao?

Toba-san trêu đùa tôi lần nữa.

“Và sao nữa? Cậu ấy sẽ tha thứ à? Cậu có đang bị ảo tưởng không?”

Dường như cậu ấy cũng biết Oreki. Nhìn thấy tôi nhìn thẳng kiên quyết, Toba-san tiếp tục:

“Đã tận lúc này rồi mà cậu còn muốn làm gì đó ư? Nhưng… nếu cậu từng là một trong lũ người có thành kiến với Oreki-san thì đó là vấn đề.”

Khi nói tên của Oreki giọng của Toba-san trông thoải mái thấy rõ. “Bạn gái”, cái từ tôi đã từ chối tin vào bấy giờ lại hiện ra trong tâm trí.

“Toba-san. Với cậu, Oreki-san là…”

“Có lẽ là anh hùng của tôi. Cứ xem là vậy.”

Anh hùng? Oreki á?

Trong lúc này, một nụ cười đã nằm trên gương mặt của Toba-san.

Tôi sẽ tìm hiểu về việc đó sau. Bây giờ, khi bức tường của cậu ấy đang hạ xuống tôi cần phải khai thác càng nhiều thông tin càng tốt. Nghĩ vậy tôi bèn hỏi:

“Vậy về cái khung thì sao?”

“Cái này… có thể coi là một lời nguyền đã bị vỡ từ đó.”

“Chính xác Oreki đã làm gì miếng gỗ vậy?”

Toba-san cười mà nói: “Ai biết? Tôi không có nghĩa vụ phải trả lời tất cả nhỉ? Nếu cậu hỏi về chuyện này trước một năm thôi hẳn là tôi đã rất vui mà kể hết toàn bộ… Nhưng, chỉ một thứ tôi có thể chắc chắn với cậu. Nói rằng ‘có thành kiến với Oreki’ là một tội không thể tha thứ.”

Không còn cơ hội chống chế, tôi bèn chẳng màng tới nữa.

Một cơn gió nhẹ thoảng qua nơi cao nhất trường. Không có thanh chắn khiến chỉ một cơn gió như thế đủ làm tôi rung mình. Toba-san thả lỏng vai, tỏ ra chán nản rồi nói:

“Nếu muốn biết thì tại sao cậu lại không tự mình đến xem cái gương ấy nhỉ? Dù, cậu sẽ chẳng thấy được cái gì nếu cứ đứng thẳng ra thế. Thôi, tôi đang tìm cảm hứng để chụp hình. Cậu đang gây xao lãng đấy. Vậy tôi có thể nhờ cậu rời khỏi sân thượng được không?”

Nói xong, cậu ấy quay đi.

Tôi nghĩ đến nụ cười của Chi-chan về câu chuyện hấp dẫn Oreki kể hôm qua.

“Chờ đã. Một chuyện nữa thôi.”

“… Là gì?”

Đối diện cái nhướn mắt cảnh giác của Toba-san tôi lên tiếng, khẳng định sẽ không bao giờ lặp lại câu hỏi này lần thứ hai.

“Từ đó cậu có gặp Oreki lần nào chưa?”

May mắn là Toba-san không nghĩ quá sâu.

“Tôi muốn Oreki mãi là một anh hùng.”

“…”

“Nếu gặp nhau nói chuyện tôi sẽ thấy tởm lắm, phải không nào?”

Cậu ấy quay đi sau khi nói, khom lưng mà nhìn vào khung ngắm của chiếc máy chụp hình. Tôi hiểu rằng Toba-san sẽ không trả lời bất cứ câu hỏi nào nữa.

Chương 5[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối cùng chiếc gương mới là câu trả lời.

Tôi đi xuống nhưng không hướng về phòng Địa Chất. Nếu đã vậy thì thì tôi phải làm gì đây? Dù chẳng muốn thừa nhận nhưng nếu những gì Toba-san nói là đúng, thì việc dùng tên cậu ấy bắt Oreki phải mở miệng, ép cậu ta phải nói ra tất cả sự thật chỉ để tìm lý do cho một lời xin lỗi – quả là chẳng tốt đẹp chút nào.

Tôi thực sự muốn biết Fuku-chan phải nói gì về việc này. Tuy nhiên, nếu liên quan đến cái gương thì ngay từ đầu Fuku-chan đâu có cùng lớp với Oreki và Toba-san? Hơn nữa, nếu Oreki đã cố tình giấu mà giờ tôi lại kể cho Fuku-chan thì thật là ti tiện. Hiện tại tôi phải chịu đựng một mình thôi. Chịu đựng đi.

Vẫn còn thời gian trước khi trường Sơ trung Kaburaya đóng cửa.

Có nhiều nơi mà học sinh Cao trung không được phép vào. Những nơi bất hợp pháp, vô đạo đức hay chỉ là vi phạm quy tắc trường. Mặt khác, cũng có những nơi không hề bị ngăn cấm nhưng chẳng ai muốn tới – ví dụ điển hình là trường Sơ trung cũ của người đó. Tôi thật sự cũng có cảm giác như vậy.

Đứng trước cổng chính trường Kaburaya, tôi quan sát những đóa đỗ quyên và cúc vạn thọ nở rộ trên khoảng đất lối vào mà cảm nhận đôi má đang ửng hồng vì nóng. Đội điền kinh và bóng chày đang tập luyện trên sân, và tôi có thể nghe thấp thoáng bài hợp xướng từ một CLB âm nhạc nào đó. Những hình ảnh này không khác mấy so với trường Kamiyama, thế thì sao tôi lại cảm thấy rất khó để bước vào trường Kaburaya nhỉ?

Lý do quá rõ ràng. Tôi đã tốt nghiệp từ ngôi trường này với cả nụ cười lẫn nước mắt…

Chúng tôi đã không thể quay lại.

Chúng tôi sẽ không thể quay lại.

Tôi kiểm tra vẻ ngoài của mình. Bất kỳ ai đi ngang qua đây hẳn sẽ nhận ra đồng phục trường cao trung Kamiyama. Có nên về nhà để thay bộ đồng phục hồi sơ trung không nhỉ? May mắn, hay đúng hơn là không may, là so với hồi đó tôi chẳng lớn hơn được chút nào. Nhìn chung thì cũng phải lớn thôi nhưng kết quả trên bảng chiều cao luôn khiến tôi thở dài. Không biết mặc lại đồ sơ trung có còn hợp không nữa.

Lắc đầu.

Tôi đang nghĩ gì thế này? Làm vậy có khác gì cosplay[9] đâu? Không khéo lại làm người ta nghi ngờ là kẻ gian thì tiêu. Dù không được thoải mái nhưng sự thật những gì tôi định làm chỉ là đi vào một ngôi trường sơ trung, và đó chẳng phải cái gì cần “dũng cảm” hết.

Được rồi, vào nào!

Qua cổng trường, tôi để ý rằng mình đang đi dạt qua một bên.

Có ba lối để vào trường: một cho học sinh, một cho công nhân viên và một để tiếp khách. Đi bằng đường dành cho khách có vẻ không được lịch sự lắm nên tôi đã tính “đột nhập” bằng lối học sinh. Nhưng, nếu làm vậy tôi sẽ không thể đi vào những dãy phòng học vì không có dép dành cho người ngoài ở lối vào này. Thế là dù không được xem là “khách” tôi đành mạn phép đi vào bằng lối đó.

Giá mà có một quầy tiếp tân nhỉ? “Em là Ibara, học sinh đã tốt nghiệp. Em có thể vào trường một chút được không?” “Dĩ nhiên!” Nếu vậy thì tôi đã chẳng phải vào trong lo lắng thế này. Cửa trường mở toang mà chẳng có một ai cứ như muốn nói “Chỉ những ai tâm địa trong sáng mới dám đi vào bằng lối này” vậy. Ba năm học chẳng thể giúp tôi tránh khỏi sự căng thẳng khi đi trên dãy hành lang này. Tôi nhanh chóng bước vào, cởi giày rồi lấy ra một đôi dép đi-trong-nhà màu xanh lá cây có hàng chữ “Trường sơ trung Kaburaya” trên quai.

Tác phẩm của chúng tôi đã được đặt tên là “Tấm gương kỉ niệm”. Nghe không được nổi bật lắm nhưng cũng còn tốt hơn nhiều biệt danh kì lạ khác. Còn học ở đây một học kì sau khi chiếc gương được lắp khung nên tôi biết nó được đặt ở đâu: giữa chân của hai cái cầu thang, bức tường đối diện.

Rất sợ bị bắt gặp nhưng cũng cố bình tĩnh, tôi từ từ đi tới đó.

Ba mươi phút nữa là giờ đóng cửa. Tôi có thể nghe tiếng người nói chuyện dưới sân trường nhưng chẳng gặp ai đi qua hành lang cả. Nếu thấy một cô bé trong bộ đồng phục thủy thủ chắc tôi sẽ nhớ lại mình vào hai năm trước mà chìm đắm trong những kí ức mất. Nhưng chẳng có ai cả, nên tôi đành để tâm trí mình hướng về từ đầu tới cuối cuộc nói chuyện với Toba-san…

Một lời nguyền đã bị vỡ từ đó.

Vậy là sao nhỉ? Nếu nói về một tấm gương bị nguyền thì… như Bạch Tuyết chăng? Thế thì phải là gương thần chứ. Ai lại xem một cái gương hai mặt không hiện lên những thứ quái gở vào ban đêm là gương bị nguyền bao giờ? Chưa nói tói việc ‘Tấm gương kỉ niệm” chỉ có một mặt…

Một lời nguyền đã bị vỡ à?

Theo dòng suy nghĩ tôi đến ngay trước tấm gương mà chẳng gặp một người nào.

… Nó luôn nhỏ như thế này sao?

Đó là điều đầu tiên tôi nghĩ tới.

Nếu là học sinh tiểu học chắc tôi sẽ choáng ngợp về việc cái gương to thế nào so với thân hình nhỏ bé của mình. Tôi tin rằng mình đã lớn lên nhiều nhưng rõ là chậm dần và chậm dần tới nỗi dường như đứng lại từ lần cuối cùng tôi nhìn thấy “Tấm gương kỉ niệm”. Dù vậy, thứ đang treo trên tường tỏ ra nhỏ một cách đáng thất vọng.

Thật ra, không, không nhỏ đâu. Tôi có thể nhìn thấy toàn thân mình trong gương mà còn dư vài chỗ. Hai mét đã được xem là to rồi. Thế thì, nói cách khác, tấm gương trong tâm trí tôi trước ngày hôm nay đã bị thổi phồng lên hơi nhiều.

“Nhớ quá. Cũng phải thôi…”

Tôi đưa một cánh tay ra.

Theo lý thuyết thì tất cả học sinh đã tốt nghiệp năm ấy đã chung tay khắc nên cái khung này. Tôi không thực sự kỳ vọng cao, nhưng vào cái ngày được chứng kiến cảnh từng phần của cái khung được ghép lại, và dù phần quan trọng nhất là dán thì lại nhờ thầy thì trong tôi vẫn trào dâng một niềm tự hào sâu sắc. Chú chim đậu trên mấy quả nho phía trên bên trái tất nhiên là thành quả của Mishima và tôi. Giờ nhìn lại tôi đã có thể khẳng định con “chim nhạn” của chúng tôi thực chất là chim ruồi. Nếu biết từ trước hẳn là tôi sẽ chau chuốt hơn cho cái mỏ của nó rồi.

Dưới tấm gương là một biển tên bằng nhựa. Dòng chữ “Tấm gương kỉ niệm (thiết kế: Ami Takasu)” được in lên trên đó. Năm chúng tôi tốt nghiệp cũng được chú thích vào.

“Takasu-san cũng được lưu danh rồi nhỉ.”

Hồi còn học ở đây tôi đã không để ý tới cái bảng tên. Dù có hơi ganh tị khi tên của Takasu-san sẽ tồn tại mãi mãi trong trường nhưng tôi vẫn thấy may thì đó không phải là tên mình.

Còn một chi tiết mà thực tế khác với trong tâm thức của tôi – những nhánh nho leo xung quanh tấm gương hóa ra rất mỏng. Tôi nhớ là những nhánh leo đã phủ kín bề rộng mười xen-ti-mét của từng miếng gỗ, nhưng thực ra cái nhánh dày nhất trông cũng chỉ hai xen-ti là cùng. Những chỗ trống được lấp đi là bởi những đoạn leo cong và xoắn vào nhau.

“Chắc tầm sáu mươi điểm.”

Tôi thấy mình tự lẩm bẩm. Hồi đó từng ngưỡng mộ tính gần như hoàn hảo của bản thiết kế bao nhiêu, giờ nhìn lại thì quả thật tôi chỉ thấy nó rắc rối một cách không cần thiết. Rõ ràng nhất là những chi tiết rối rắm ở phần dưới cái khung. Những nhánh leo mỏng một cách xơ xác giăng hết khắp chốn, uốn lên lượn xuống rồi có chỗ còn móc vào nhau như những bó rơm. Mấy cái rễ cây và bầy côn trùng chỉ góp phần làm cho toàn cảnh càng trở nên lộn xà ngầu. Nói thế nhưng không nghĩa tôi xem cái mớ bòng bong đó là không đẹp, chỉ là phần trên trông thoáng mắt hơn hẳn mà thôi.

Chuyển.

Lùi một bước, tôi xem xét hai cạnh bên. Nãy giờ toàn chú ý vào khung gỗ khiến tôi làm ngơ trước ảnh phản chiếu của chính mình trong gương. Nó đang nhíu mày và khoanh tay lại.

“… Vậy, đây là cái gương bị nguyền…”

Tấm kiếng tự nó là loại bình thường mà một thầy trong trường đã mua. Có lẽ Fuku-chan sẽ lấy cái gì đó như là Lý thuyết Lỗ nhỏ[10] để chứng minh nhưng tôi vẫn trung thành với lý tưởng là nó chả liên quan gì tới bùa ngải cả.

Một lời nguyền ẩn sâu trong từng miếng gỗ.

“Nhưng cậu ấy có nói là ‘đã bị vỡ’.”

Oreki là người đã phá vỡ “lời nguyền” sao?

Giữa mớ leo xoắn tít khắp khung gương chỉ có một đường ngang phè. Mắt tôi liền dán vào đó. Cái nhánh ngang đơ đó rõ là của Oreki.

Lời nguyền.

“Hm…”

Những lời cuối của Toba-san là gì nhỉ? Oreki là người hùng. Cậu ấy sẽ thấy tởm nên không muốn gặp lại vị anh hùng của chính mình. Và rồi… Dù, cậu sẽ chẳng thấy được cái gì nếu cứ đứng thẳng ra thế…

Tôi “sẽ không hiểu”. Cậu ấy bảo nếu chỉ đứng đó thì tôi sẽ không thể.

Cậu sẽ chẳng thấy được cái gì nếu cứ đứng thẳng ra thế.

“Khoan, vậy đâu có đúng?”

Không, không phải thế…

Trong một khoảnh khắc tôi đã nhận ra ẩn ý trong lời nói của Toba-san.

Hàm ý của cậu ấy không phải là tôi sẽ không thể hiểu được sự thật. Thay vào đó, cậu ấy chỉ muốn nói rằng tôi sẽ không nhìn ra sự thật nếu chỉ đứng thẳng ra đó. Tôi không được chỉ “đứng thẳng”, mà phải…

Trồng cây chuối.

… Nhưng vậy thì ‘lộ’ chết…

Nếu có Fuku-chan ở đây thì đã có thể nhờ cậu ấy giữ váy rồi. Vậy giờ hoặc là liều trồng cây chuối, hoặc đứng trên trần nhà bằng một cách nào đó…

“A, hay là thế này đi.”

Tôi lấy chiếc điện thoại từ trong túi ra.

Chọn ứng dụng chụp hình, tôi hướng ống kính của điện thoại vào tấm gương. Trong gương ảnh phản chiếu của tôi cũng làm y như vậy. Nhấn vào nút chụp hình, một tiếng “click” giản đơn vang lên. Khi ảnh chụp hiện lên trên màn hình điện thoại tôi chỉ việc xoay lại mà nhìn.

Đắm trong ánh tà dương dần phủ khắp dãy hành lang của ngôi trường sơ trung cũ. Tôi chỉ còn biết thì thầm.

“… Ra là vậy.”

Chương 6[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng Địa Chất học, hôm sau.

Không có Chi-chan ở đây. Oreki, Fuku-chan và tôi là những người ở trong phòng.

Fuku-chan đang luyên thuyên về một đề tài mà có lẽ tôi đã từng nghe trước đây, còn Oreki thì vẫn ngồi ở đó. Tôi nhẹ nhàng đặt tất cả những tấm hình mới in trước mặt cậu ta, không nói gì.

Oreki bất ngờ thấy rõ. Dễ hiểu thôi. Nếu ai đó tự dưng đặt một xấp hình trước mặt thì tôi cũng sẽ bối rối. Cậu ta lặng thinh trong lúc chờ tôi lấy hết hình ra và Fuku-chan cũng vậy.

Những tấm hình này chụp phần dưới cái khung của “Tấm gương kỉ niệm”. Có tổng cộng mười lăm tấm, gồm cả hình miếng gỗ khắc dối của Oreki nữa. In tới mười lăm tấm hình khiến máy in của tôi hiện chẳng còn giọt mực nào. Chủ nhật này phải rủ Fuku-chan đi mua mực thôi.

Nhận ra tôi đã dừng tay, Oreki hỏi:

“Gì vậy?”

Vẫn cố giả ngu tới cùng à?

“Kỉ niệm tốt nghiệp.”

“Ồ, thế à?”

“Cách cậu nói chuyện thực sự làm tôi bực đấy.”

Oreki khẽ gãi cằm.

“Hôm qua tôi đã gặp Toba-san. Oreki, cậu biết Toba-san cũng học ở trường này phải không?”

Đây đúng là một câu hỏi thừa. Ở chung trường hơn một năm mà chưa từng đi ngang qua nhau tới một lần thì cũng lạ.

Tuy nhiên, Oreki là một người kì lạ mà.

“Không. Đây là lần đầu tôi biết đấy.”

“Hả?”

“Cậu ấy có khỏe không?”

“Khỏe” à? Rất “khỏe” tới mức tự tạo khoảng cách với tất cả những người muốn thân với mình đấy! Nhưng, tôi đã hiểu tại sao cậu ấy làm vậy.

“Ừm, cậu ấy cũng khỏe.”

“Vậy thì tốt rồi.”

“Cậu ấy bảo tôi phải trồng cây chuối trước tấm gương.”

Nói xong, tôi xoay ngược cả mười lăm tấm lại. Ngồi cạnh Oreki, Fuku-chan vẫn không hề lên tiếng. Sự im lặng này chỉ có một ý nghĩa: Fukube Satoshi đã biết về chuyện giữa Oreki, Asami Toba và miếng gỗ từ trước.

Dưới góc nhìn thông thường, những tấm ảnh chỉ cho thấy vô vàn nhánh nho leo hỗn loạn. Nhưng, nếu xoay chúng ngược lại thì những hình ảnh hoàn toàn khác sẽ lần lượt xuất hiện.

Một nhánh leo cong tròn, khi nhìn ngược lại, trở thành chữ “e”.

Một đoạn leo gấp khúc, khi nhìn ngược lại, sẽ là chữ “W”.

Sau đó là chữ “h”, rồi thì một chữ “A”… Vì toàn là chữ la-tinh nên phải tốn một thời gian để tôi có thể dịch ra hết.

Mười năm tấm hình cùng nhau thốt lên một lời nguyền rủa.

W – e - (trống) – h – a – t – e - (trống) – A - (gạch ngang) – a – m – I - (trống) – T

We hate Ami – ‘Chúng tôi ghét Ami’. Thật là kinh khủng. Ẩn dấu trong kỉ niệm tốt nghiệp của chúng ta là cái thông điệp này đây.”

Oreki đã không còn làm bộ. Cậu ta khẽ gật đầu và nói:

“Ừ. Tớ cũng thấy vậy.”

“Nhưng, câu này đã có vấn đề.”

“Chính xác.”

“Một kí tự đã bị thay đổi.”

“Đúng.”

“Và đó là phần của cậu đúng không?”

Tôi chỉ vào “dấu gạch ngang” nằm giữa hai kí tự “A” và “a”. Oreki gật đầu lặng thinh.

Không cần bắt cậu ta phải xác nhận thêm nữa. Oreki có lẽ đã biết tôi đã tìm ra điều gì.

Thông điệp mà những nhánh leo phải che dấu lẽ ra là “We hate Asami T – Chúng tôi ghét Asami T.” Nhưng, bởi vì Oreki đã bỏ đi một kí tự nên nghĩa của cả câu đã thay đổi.

Lời nguyền lẽ ra phải dành cho “Asami T” - Asami Toba đã “bị vỡ”.

Lúc này, tôi hướng mắt về Fuku-chan.

“Nè Fuku-chan, hôm qua tớ đã về trường Kaburaya một chuyến.”

“Ồ, vậy mọi người sao rồi?”

“Có gặp được ai đâu? Nhưng tớ có thấy một cái bảng tên bên dưới tấm gương, viết rằng Ami Takasu là người thiết kế.”

“Ồ, vậy à?”

“Fuku-chan, cậu đã nhờ người ta làm cái bảng ấy phải không?”

Fuku-chan và Oreki trao đổi ánh mắt với nhau.

Sao lại không kể cho tôi chuyện này? Họ không nghĩ rằng sẽ có ngày hôm nay, khi tôi có thể tự mình tìm ra tất cả sao? Con trai thật lạ. Không, phải nói rằng con trai luôn là đồ khó hiểu mới phải.

Ami Takasu và băng đảng của cậu ta đã muốn dùng tấm gương để khủng bố Asami Toba. Nếu mâu thuẫn đó đủ trở nên nghiêm trọng thì những lớp khác ít nhiều cũng phải biết. Thế nhưng, tôi không nhớ một chuyện như vậy xảy ra cả. Như vậy nó phải đã xảy ra một cách thầm lặng – có lẽ là từ một nơi ngoài trường như lớp học thêm chẳng hạn. Khi được tin tưởng để thiết kế tác phẩm tốt nghiệp của cả khối, Ami Takasu đã thêm vào đó lời nguyền cuối cùng. Nó sẽ mượn danh của toàn thể học sinh năm ba mà ám ảnh Asami Toba, mà mãi mãi tồn tại như một phần của trường Sơ trung Kaburaya.

“Chúng tôi ghét Asami Toba.”

Không may cho cậu ta là Oreki đã nhận ra điều đó. Phần dây leo mà cậu ấy đảm nhiệm lẽ ra phải uốn lên lượn xuống để thành hình chữ “s” ngược. Nhưng, nếu chỉ thế thì cậu ấy đã không thể biết được toàn bộ thông điệp vì mỗi nhóm chỉ được nhận hình mẫu cho riêng phần của mình. Nghi ngờ, Oreki có lẽ đã tìm tới Fuku-chan. Fuku-chan nằm trong ban giám sát dự án nên hẳn là cậu ta đã có bản mẫu của toàn bộ thiết kế. Oreki và Fuku-chan đã cùng nhau giải đáp được toàn bộ thông điệp nhưng đã quá trễ để dừng dự án lại, vì vậy điều duy nhất họ có thể làm là thay đổi chính cái thông điệp đó.

Không ngạc nhiên khi Ami Takasu-san đã khóc như mưa trong nhà thi đấu lạnh lẽo vào buổi chiều khi chiếc khung mới được lắp vào. Lời nguyền đáng ra phải trù ếm “Asami T” đã, bằng cách nào đó, quay sang trù ếm người mang tên “ami T”.

“Toba-san bảo rằng cậu là người hùng của cậu ấy.” Tôi nói với Oreki.

Rồi chăm chú quan sát cậu ta.

Đúng như dự đoán, mặt của Oreki đỏ hoe. Khi tìm ra sự thật tôi cũng hiểu vì sao mà Oreki luôn tránh né về những chuyện đã xảy ra. Cậu ta đã cứu Toba-san, và chính điều này làm cậu ta xí hổ. Một con người suốt ngày lảm nhảm về “tiết kiệm năng lượng” lại nổi hứng giúp đỡ cho một cô gái, cậu ta không muốn cho ai biết là phải rồi.

Sao đần vậy hả trời?

“Không ngờ rằng hôm nay lại là ngày sự thật được phơi bày ra ánh sáng. Có vẻ như tớ đã đánh giá thấp Mayaka rồi nhỉ?” Fuku-chan nói bông đùa.

Để vuột một tiếng thở dài, Oreki quay sang Fuku-chan mà nói: “Lúc đó, tớ đã nghĩ về việc có nên chuyển nhánh leo thành chữ ‘t’ hay không.”

“Thật à? Ý tưởng không tệ.”

Nếu Oreki chuyển nó thành chữ ‘t’ thì sẽ thành… “Chúng tôi ghét Atami T” à?”

“Nhưng, cậu biết đấy, tớ không hẳn là ghét biển Atami[11] cho lắm.”

Không thể tin được, dám xài trò đùa dở ẹt này với tôi à? Gần năm năm chơi thân đã giúp tôi ngay lập tức đọc ra ý định của hai tên quỷ này – Oreki và Fuku-chan đang cố lảng câu chuyện sang một hướng khác. Biết ngay mà!

Không để họ nắm thế chủ động, tôi cao giọng tuyên bố:

“Oreki, tôi xin lỗi! Tôi đã không nghĩ rằng cậu lại làm như thế nên bấy lâu đã coi thường cậu. Tôi thật sự xin lỗi!”

Oreki bấy giờ đã ngượng chín mặt và chỉ biết đảo mắt khắp phòng. Tìm được một quyển sách trên bàn, cậu ta liền chộp lấy với một sự biết ơn sâu sắc. Và rồi, như vị cha sứ đáng kính cầm Kinh Thánh trên tay, cậu ta lắp bắp trong khi tránh ánh mắt của tôi…

“Rồi rồi rồi rồi rồi, cứ giữ mấy tấm ảnh đi… Để ở đây xao nhãng quá!”

Giá mà có cái gương ở đây để Oreki được xem mặt mình lúc này nhỉ.

— HẾT


[1] G Pencil: tên của một nhãn hiệu bút chì kim.

[2] Tablet : máy tính bảng, gần giống như Ipad nhưng được thiết kế chuyên dụng cho việc vẽ.

[3] “Số” ở đây là “Kỹ thuật số”.

[4] Guitar Bass là một loại đàn ghi-ta điện dùng để đánh những nốt trầm hơn ghi-ta thường.

[5] Sự khác biệt giữa “Chạm khắc” và “Điêu khắc” được định nghĩa như sau: nếu phần khắc ăn sâu vào trong bề mặt vật khắc hơn 4.2 cm thì được gọi là chạm khắc, sâu hơn thì là điêu khắc.  

[6] Ở trường học Nhật Bản, cấp lớp sẽ được gọi là “Năm” và số thứ tự sẽ là tên lớp. Như vậy “Năm ba, lớp 5 sơ trung” tương ứng với lớp 9/5. (Sơ trung là cấp 2, bao gồm ba năm học ứng với lớp 7,8,9 ở Việt Nam)

[7] Bento là cách người Nhật gọi hộp cơm của mình.

[8] “Phòng tối” là phòng để rửa ảnh, vì ảnh chụp rất nhạy sáng nên trong phòng không được để lọt ánh sáng nào từ bên ngoài, ánh sáng duy nhất trong phòng là một nguồn sáng đỏ đơn sắc.

[9] Một loại hình giải trí, trong đó người ta mặc lên mình những trang phục của các nhân vật trong phim ảnh, anime, manga, game… mình yêu thích, và có thể còn bắt chước những hành động đặc trưng của họ.

[10] Lý thuyết phát biểu rằng: nếu trên một không gian kín sáng (một cái hộp bên trong sơn đen chẳng hạn) đục một cái lỗ nhỏ, thì ánh sáng từ một vật đi vào lỗ sẽ hiện lên ở mặt đối diện hình ảnh ngược của vật đó. Đây là nguyên tắc để chế tạo camera đầu tiên.

[11] Một bãi biển ở Nhật. ''''''''''''

Nắng có trên triền núi[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiếc trực thăng bay qua trường vào giờ tan học.

Thứ âm thanh như xé toạc không khí ngày càng đến gần, gần một cách ngạc nhiên, mà chả có vẻ gì là sẽ đi sớm. Tiếng ồn từ trên cao cứ liên hồi dộng thẳng xuống đỉnh đầu đã khiến tôi chột tin rằng nó sẽ hạ cánh ngay tại sân trường, nhưng rốt cuộc cũng từ từ hòa tan vào khoảng không.

Bốn chúng tôi bấy giờ đang ngồi trong phòng Địa Chất – đại bản doanh của CLB Cổ Điển. Tôi đọc sách, Satoshi hình như là làm bài tập còn Chitanda và Ibara thì chiếm cho mình một góc mà cười nói về cái gì có trời biết.

Âm thanh kinh ngạc của trực thăng coi vậy nhưng cũng chẳng thể phá tan bầu không khí như đóng băng nơi đây, vừa biến mất là phòng trở nên tĩnh lặng ngay. Kì lạ thật. Không định phá đi bầu yên lặng nhưng tôi đã thốt lên:

“Trực thăng à?" Trước tới giờ đã nghe không biết bao nhiêu lần tiếng trực thăng, duy chỉ lần này nó mang lại một ký ức vào tâm trí.

“Ogi thích trực thăng nhỉ? [1]"

Tôi hướng lời nói mình tới Satoshi và Ibara nhưng Chitanda mới là người đáp lại.

“Ogi-san? Cậu đang nói tới Takahiro Ogi lớp 2-B à?"

“Đó là ai?"

“Một đàn anh lớp 2-B, như tớ vừa nói.”

Thế quái nào mà tôi, một nam sinh năm nhất chưa từng động tới bất kỳ hoạt động ngoại khóa nào khác ngoài CLB Cổ Điển lại biết tới một ông năm hai cà bất cà cơ nào chứ? Đóng sách lại tôi trả lời:

“Cậu không biết ‘Ogi’ tớ đang nói đâu. Đó là thầy dạy tiếng Anh khi tớ còn học Sơ trung. Satoshi cũng biết phải không?"

Nghe tôi hỏi Satoshi liền đặt bút xuống, nghiêng đầu mà đáp với giọng điệu không chắc chắn lắm.

“Dĩ nhiên, thầy Ogi là chủ nhiệm năm cuối của tớ ở đó mà. Chỉ là tớ không biết thầy thích trực thăng.”

Tôi chợt khựng lại. Đây không phải là Satoshi biết-mọi-thứ-trên-trời-dưới-đất hay sao?

“Tớ nghĩ vụ này phải nhiều người biết lắm chứ. Vụ thầy Ogi mê mẩn trực thăng ấy.”

Nói xong tôi quay sang Ibara với hy vọng kiếm được người đồng tình.

Ba chúng tôi – cụ thể là Satoshi, Ibara và tôi – đều đã rời Sơ trung Kaburaya mà đến Cao trung Kamiyama này. Chỉ Chitanda là từ nơi khác. Rõ rành rành là Ibara nhận ra tôi đang nhìn, nhưng nhỏ vẫn không hề quay đầu mà chỉ đáp gọn lỏn.

“Vậy à.”

Hình như có cái gì sai sai. Chẳng lẽ Satoshi và Ibara không biết thật? Mà vốn dĩ tôi có phải là thằng ngồi lê đôi mách tới khắp ngõ ngách trong trường cho cam? Trước giờ chả có gì tôi biết mà hai đứa này không biết cả… và đó là chưa nói tới vụ Ibara và tôi còn học chung cả ba năm. Nhỏ không thể không biết.

“Bộ quên thật rồi à Ibara? Không nhớ rõ khi nào nhưng chắc chắn một chiếc trực thăng đã bay qua trường Kaburaya.”

“Ừm, được mấy lần?"

Chẳng có chút ấm áp nào trong giọng nói của nhỏ. Chịu, dù gì tôi cũng chưa từng thấy một Ibara-thân-thiện trông thế nào.

“Tớ đang nói một thời điểm cụ thể. Khi đó thầy Ogi đột nhiên ngừng giảng, bước tới cửa sổ rồi nhìn lên trời. Phải một hồi lâu từ lúc mới tới cho đến khi trực thăng bay mất hút thầy mới quay lại nhìn lớp mà cười, nói rằng ‘Thầy thích cái trực thăng này’ hay đại loại thế trước khi tiếp tục giảng.”

“Hửm,” Ibara nhăn mặt như cố nhớ lại điều gì trước khi lên tiếng. “Cậu kể tôi mới nhớ. Ừ, đúng là có chuyện đó thật, nhưng là trong tiết của thầy Ogi à?

“Chắc chắn.”

Hú hồn. Xem ra tôi không hoang tưởng thật.

Nhưng ở phía bên kia Satoshi vẫn cứ nghiêng đầu. Nghiêng trước rồi về sau, sang trái lại sang phải… bộ tính tập thể dục cho vai à? Vừa nghĩ tới khả năng đó tôi thấy hắn bất chợt ngừng lại mà nói: “Rất là có vấn đề.”

“Nhưng chắc chắn trí nhớ tớ là đúng.”

“Vì có một lần khác cả một tiểu đội trực thăng của SDF [2] bay qua trường đó thôi. Nhìn bảnh lắm, nhưng tớ không nhớ là thầy Ogi có chút phản ứng nào.”

Tôi có vài thắc mắc.

“Sao biết đó là một tiểu đội?'"

“Vì họ bay theo đội hình đàng hoàng.”

“Sao biết đó là thuộc SDF?'"

“Vậy có ông nội nào khác được cho phép bay một mớ trực thăng theo hình chữ V như thế?'"

Hợp lý. Tôi còn một câu hỏi khác.

“Cậu có chắc lúc đó là tiết của thầy Ogi không?"

“Chắc chắn. Tớ còn nhớ cả việc đang dò từ ‘ATM’ trong từ điển khi chứng kiến đội trực thăng cơ mà… nên dễ liên tưởng lắm. Và thế nghĩa là tớ đang trong tiết tiếng Anh và người dạy là thầy Ogi. Cả ba năm đều học mỗi thầy.”

Dám cá là Ibara lẫn Chitanda đang cố hiểu xem trực thăng thì có gì mà “dễ liên tưởng” tới máy rút tiền tự động [3]. Cái “ATM” mà hắn muốn nói là chỉ “tên lửa chống tăng” [4] cơ, loại hay được gắn dưới bụng trực thăng ấy. Tồi quyết định không đề cập để tránh loãng chủ đề.

“Ừ. Nếu một cảnh như thế xuất hiện thì tớ sẽ nghĩ thầy Ogi chắc chạy xuống sân trường mà múa luôn quá.”

“Múa thì chắc không đâu.”

Ví dụ thôi.

Xem ra Ibara cũng đang cố lục lại mọi ký ức.

“Ờ, tôi đã nhớ vụ thầy Ogi thực sự rất vui khi thấy chiếc trực thăng. Cũng lâu rồi… hình như là ngay sau khi tụi mình nhập học.”

“Mà nhắc mới nhớ, lúc đó tớ còn nghĩ là ‘Trường này có nhiều giáo viên kỳ lạ nhỉ’ khi nhìn thấy phản ứng của thầy.” Tôi bình phẩm.

“Nhưng giống như Fuku-chan đã nói, ngoài lần đó thì tôi không thấy thầy phản ứng gì với trực thăng nữa.”

Ngay sau khi chúng tôi nhập học á? Ký ức tôi mông lung quá nhưng xem ra Ibara nói đúng. Sau đợt đó tôi không nhớ tới một sự kiện gần giống nào khác.

Satoshi, dường như vừa nhớ ra điều gì mà lên tiếng:

“Cơ mà, nếu nói về thầy Ogi thì có một điều nổi tiếng hơn đấy chứ? ‘Truyền thuyết dựng-tóc-gáy của thầy Ogi’ ấy!”

“Đừng có nói bậy bạ.”

Satoshi là chúa chế những “truyền thuyết”, nhưng lần này trông hắn có vẻ thành thật.

“Không. Nghiêm túc đó. Chính thầy kể cho lớp tớ nghe mà.”

Đúng là thầy rất thích kể chuyện, nghĩ vậy nhưng tôi quyết định không nói gì, đổi lại Satoshi cười tươi rói mà chỉnh trang tác phong như thể chuẩn bị tấu một bản anh hùng ca nào đó.

“Vụ liên quan tới thầy Ogi ấy, thế này… thực ra ban đầu tớ cũng bán tín bán nghi. Tớ không chắc là cậu hiểu được dù có nói thế nào đi nữa, mà cũng chả thể nói là hoàn toàn vô lý, nhưng…”

“Vô đề dùm cái.”

“Theo như lời kể thì thầy từng bị trời đánh ba lần rồi.”

Với Chitanda thì có lẽ thầy Ogi chỉ là một người không quen biết cuồng trực thăng và thích rút tiền từ máy ATM mà thôi. Nhỏ dễ hiếu kỳ thật nhưng khó mà tin được một cái gì trong tổ hợp vừa nêu khiến nhỏ thấy thú vị cả. Thế nhưng Chitanda vẫn lên tiếng:

“Trời đánh? Ý cậu là sấm sét trên trời sao?” Vừa nói Chitanda vừa chỉ tay lên trần. Satoshi gật đầu.

“Đúng vậy. Sấm sét!”

Cái này thì chưa nghe bao giờ. Tôi lặng thinh mà dòm Ibara. Cái cách nhỏ lắc đầu lại cho tôi chỉ rõ là nhỏ cũng chẳng biết gì.

Chitanda nhíu mày lại đầy tập trung. Coi nào, có biết người ta đâu mà...

“Đến ba lần như vậy. Thật là một kỳ tích khi thầy vẫn còn sống,” nhỏ nói.

“Mà còn sống khỏe ấy chứ!”

Nghe thật chả dễ chịu gì. Giá mà tôi có thể vờ như chuyện này không xảy ra.

“Thầy bảo hên là không có lần nào bị đánh trực diện cả, nhưng đủ để biến thầy thành một mớ lộn xà ngầu. Có một lần đánh trúng là hôn mê luôn thì phải, nhưng thầy còn cười mà nói là còn vết sẹo để chứng minh đây này.” Satoshi kể tiếp.

“Tớ hiều… nhưng ít nhất thầy vẫn khỏe. Tạ ơn trời.” Chitanda đáp lại.

Đúng vậy. Bị sét đánh trong nhiều trường hợp hoàn toàn có thể gây tử vong. Ít nhất thì lúc còn học tôi không thấy một vết thương rõ ràng nào ở thầy cả, và dù không cao to nhưng trông thầy rất tráng kiện. Đến ba lần mà vẫn sống khỏe mạnh… có khi từ “kỳ tích” vẫn còn tầm thường lắm để mô tả trường hợp của thầy.

Lúc này tôi lại cảm thấy bức bối. Bị sét đánh? Mà còn tận ba lần? Bộ điều đó có thể sao?

Thành phố Kamiyama không có truyền thống về bão hay sét đánh nhưng một mình thầy Ogi lại dính tới ba lần. Khó mà bảo là Satoshi lại xạo. Đúng là hắn chế nhiều nhưng không lần nào trong số đó được mào đầu bằng câu “Không. Nghiêm túc đó” cả. Vậy chẳng lẽ thầy Ogi nói xạo. Không, khó lắm. Nhiều người thích làm quá điềm xui rủi của mình như một cách pha trò, nhưng nói rằng “Tôi bị sét đánh ba lần rồi” thì nó, nói sao nhỉ, quá hiển nhiên cho một lời nói xạo phải không?

Một ý tưởng không được vui cho lắm chợt nảy ra trong tôi.

“Satoshi, trong thư viện có báo cũ không?”

Hơi nhăn mặt vì chủ đề bị đổi nhưng hắn vẫn trả lời:

“Có. Trong thư viện có một mớ.”

“Ưm, nhưng tụi này chỉ lưu lại những bài báo liên quan đến trường mà thôi,” Ibara thêm vào.

Ờ ha, sao tôi lại quên nhỉ. Ibara là một thủ thư cơ mà. Những dịp tới thư viện tôi thường thấy nhỏ ngồi sau quầy… nhưng dẹp qua một bên. Chuyện này không liên quan tới hoạt động trường nên chắc ở đó không có thông tin mình cần. Cằm cặp lên, tôi nói:

“Về nhé. Tớ định ghé qua thư viện thành phố. Muốn đi không?”

Tôi nói với Satoshi, nhưng hắn liền trưng ra cái mặt đầy nghi vấn.

“Chuyện gì đang xảy ra thế này? Sao cậu lại có thể trông đầy-hứng-thú thế kia?”

Đầy-hứng-thú à? Không hẳn thế đâu… chỉ là có gì đó cứ bức bối mãi trong đầu nên…

“Tớ hiếu kỳ.”

Một giây sau khi thốt lên lời đó tôi cảm thấy bầu không khí xung quanh hình như có thay đổi. À mà thay đổi thật: Satoshi dùm hai tay bụm miệng, còn Ibara thì làm bộ mặt như thể vừa ăn cái gì tởm lợm lắm.

Run run đưa ngón tay trỏ vào tôi, Satoshi thảng thốt: “Houtarou? Là cậu sao? Oreki Houtarou ấy? Cậu có từng bị người ngoài hành tinh bắt không? Hay là bị Chitanda nhập rồi?”

“Tớ đang đứng ở đây cơ mà?” Chitanda phản đối.

“Tôi nghĩ cậu nên về nhà Oreki ạ. Về thẳng nhà mà nghỉ ngơi đi. Đắp chăn ấm vào. Không sao, ngày mai cậu sẽ thấy khỏe hơn.” Ibara nhẹ nhàng khuyên bảo.

… Bộ tôi muốn làm gì đó thôi cũng khiến cả bọn bất ngờ đến vậy à? Đồng loạt dội bom như thế cơ đấy, thiệt tình! Không biết thư viện khi nào đóng cửa nhỉ. Chắc không phải thâu đêm rồi… lờ mà tới nơi nó đóng cửa thì phí năng lượng phải biết. Xem ra tôi nên nhanh chóng tách khỏi cái đám thiếu lịch sự này mà nhanh đi thôi.

Nghĩ vậy tôi đứng dậy mà nhận ra là cùng lúc với một người khác. Đó là Chitanda.

“Oreki-san, cậu hiếu kỳ lắm phải không?”

“Ừ, có lẽ vậy.”

“Cậu có định đi tìm câu trả lời không?”

“Cũng có khi tớ không tìm thấy gì, nhưng thư viện thành phố là cơ hội lớn nhất.”

“Tớ cũng hiếu kỳ!”

C-cái gì?

Chitanda nhanh chóng gạt mớ bàn ghế qua mà tiến tới chỗ tôi. Dừng cách đó một mét, còn đôi mắt đen thì dán chặt vào đối tượng.

“Một điều có thể khiến Oreki-san cảm thấy có hứng thú ư… Tớ thật sự muốn biết! Cực kỳ hiếu kỳ luôn!”

Ồ.

Sao phiền phức thế này.

Satoshi còn một đống bài tập nên không tham gia. Mà thôi, không có hắn cũng chả khiến tôi khốn khó hơn là mấy… nhưng thành thật mà nói Ibara sẽ là một trợ thủ đắc lực nếu nhỏ – một thủ thư cốt cán của trường – có thể tham gia. Có điều quan hệ giữa chúng tôi không ổn thỏa đến mức muốn rủ là rủ được…

Thế cũng có nghĩa là chỉ Chitanda chờ tôi trước cổng trường.

Đay là lúc hầu hết học sinh đã kết thúc hoạt động CLB mà nối đuôi nhau về nhà. Những thành viên CLB Điền kinh vẫn còn trên sân tập nhưng xem ra hầu hết cũng bắt đầu thu dọn đồ đạc. Nhóm con gái vắt những chiếc rào qua vai còn phe con trai, trông có vẻ thuộc CLB Bóng rổ cũng thu những cái trụ tập chạy lại. Tôi luôn đi bộ tới trường còn Chitanda có xe đạp. Nhìn nhỏ đạp xe ra khỏi bãi giữ khiến tôi đã nghĩ là nhỏ sẽ không chờ.

“Tụi mình đi cùng chứ?"

Nghe vậy một viễn cảnh chợt nhá lên trong tôi.

Đây là lúc nhìn bốn phương tám hướng chỉ toàn là học sinh đi về nhà. Nếu Chitanda và tôi cùng nhau tới thư viện thì nhỏ phải dắt xe…

Dĩ nhiên là không ổn.

“Cậu cứ tới đó trước đi.”

Chitanda nhìn tôi. “Cậu có thể ngồi lên mà…”

… thế đấy.

Tôi ngồi sau để Chitanda chở… Lại một viễn cảnh khác.

Dĩ nhiên càng không ổn.

Vì xét cho cùng việc Chitanda chờ ở đây sẽ chẳng mang lại lợi ích gì. Tốt nhất tôi nên nhờ nhỏ một việc gì đó để nhỏ tới thư viện trước rồi gặp nhau tại đó là hay nhất. Nghĩ ngợi một lúc tôi nói: “Chitanda này.”

“Vâng?" Vẫn ngồi trên xe, nhỏ ngừng lại rồi ngoái nhìn về tôi.

“Khi tới thư viện thì phiền cậu hỏi xem có thể kiếm báo cũ bằng cơ sở dữ liệu số hóa hay không nhé. Nếu có thì hỏi những bài báo liên quan tới cái tên Masakiyo Ogi dùm tớ.”

“Tớ hiểu rồi. Gặp cậu ở đó nhé.”

Nói xong Chitanda đạp xe đi. Thực sự tôi cảm thấy cái xe không hợp với nhỏ lắm. Thiệt tình, dù trông cô nàng của chúng ta có nữ tính cỡ nào thì tôi vẫn cứ liên tưởng tới mấy chiếc xe ngựa…

Không nên để Chitanda chờ quá lâu, nghĩ vậy tôi luồn lách qua đám học sinh. Chạy thì phản bội phương châm sống quá, chứ đi bộ nhanh thì chả chết ai.

Vừa đi tôi vừa nhìn xuống những bước chân. Thư viện thành phố không cách quá xa lộ trình về nhà – tất cả những gì tôi cần làm sau khi xong chuyện ở thư viện chỉ là đi một con đường vòng quen thuộc ven bờ sông. Đôi lúc vào những ngày mưa tôi chọn con đường này vì có thể đi trên những bậc thềm có mái che của các cửa tiệm san sát nhau, còn dĩ nhiên những lúc còn lại tôi sẽ chọn đường ngắn nhất. Đám đông càng ra xa thì càng thưa thớt – người về nhà, người đến chỗ học thêm, và cứ thế – để rồi tôi là đứa duy nhất còn đi dọc theo bờ sông.

Đi bộ nhanh khiến tôi hơi mệt. Ngẩng đầu lên, tôi nhận thấy có xe sắp đi tới mà nhanh chóng đứng gọn qua bên. Lúc này, trước mắt tôi cũng là khung cảnh quen thuộc của vùng núi Kamikakiuchi quanh năm tuyết phủ với những ngọn núi nối nhau từ đằng xa.

Thành phố Kamikakiuchi tọa lạc dưới chân vùng núi Kamikakiuchi. Nếu có dịp rời thành phố – để đi dã ngoại với trường chẳng hạn – các bạn sẽ nhận thấy núi sẽ vẫn tiếp tục nối nhau như một bức tường sừng sững rất dài, mà toát lên thứ cảm giác vừa tự do vừ tù túng. Ngọn núi cao nhất có đỉnh nằm khoảng ba ngàn mét tính từ mặt đất, đủ cao để khiến khí hậu hai bên sườn là hoàn toàn khác biệt. Cái này tôi chưa được chứng kiến nhưng sách viết vậy và chính chị tôi cũng xác nhận. Bà chị yêu dấu ấy thuộc kiểu người thích phiêu lưu khắp Nhật Bản và vòng quanh thế giới với một lời nhắn gửi “Chị ra ngoài chút nhé”. Tôi nghe nói chị đã leo lên những ngọn núi đằng xa kia vô số lần. Tuy nhiên, nếu có cái gì Tomoe Oreki không thông thạo thì chắc chắn là cũng leo núi. Tôi đồ rằng chị chỉ leo được nửa chừng mấy ngọn núi cho phép dân nghiệp dư cao không quá hai ngàn mét là cùng.

Hồi tiểu học tôi cũng leo núi một lần. Khỏi phải nói các bạn cũng biết điều đó bội phản phương châm sống tiết kiệm năng lượng cỡ nào. Từ đó về sau tôi chưa từng nghĩ về việc đặt chân lên một ngọn núi nào nữa.

Trời vẫn chưa chuyển tối. Không phải là chả đoái hoài gì tới Chitanda đang chờ đợi, nhưng tôi vẫn giành một vài giây để ngắm nhìn cái quang cảnh lẽ ra mình đã rất thân thuộc.

Rốt cuộc thì có lẽ việc tôi thơ thẩn trước cảnh núi Kamikakiuchi như là một điềm báo.

Thấy tôi vừa bước vào thư viện, Chitanda nhẹ nhàng bước tới mà đưa ra một tờ giấy mới in.

“Tớ tìm thấy vài tin tức về thầy Ogi này.”

Không cần phải in làm gì. Tôi khá chắc rằng mỗi tờ in tốn mười yên nên vội rút ra đồng mười yên trong ví mà đưa cho Chitanda. Nhỏ nhận mà không nói lời nào.

Thứ Chitanda tìm thấy là một tựa tạp chí phát hành vào năm ngoái.

VẺ ĐẸP CỦA VÙNG NÚI KAMIKAKIUCHI

Chuyến leo núi lên đỉnh Abumi, tổ chức bởi CLB Leo núi Kamiyama đã được tiến hành vào ngày hai mươi sáu. Mười một thành viên bao gồm các tình nguyện viên đã tham gia thu gọn rác trên núi cùng những khu lân cận. Ông Masakiyo Ogi (ba mươi chín tuổi), Hội trưởng CLB Leo núi Kamiyama phát biểu rằng: “Phong trào leo núi phát triển mạnh gần đây kéo theo việc nhiều người leo núi không để ý tới môi trường xung quanh. Tôi mong rằng hoạt động của chúng tôi sẽ giúp nhiều người tự nhận ra những hành động vô ý thức của mình đã tác động xầu với ngọn núi như thế nào.”

“Tớ biết được thầy Ogi là một người leo núi” Chitanda nhận xét rồi chợt nhìn đầy lo âu, có lẽ do mặt tôi vừa tối sầm lại, mà nói tiếp: “Ưm… có gì không ổn sao?"

“Không hẳn. Cậu đã tìm hết báo cũ rồi sao?"

“Tự tìm thì họ chỉ giới hạn trong năm năm gần nhất thôi, cũ hơn thì cậu có thể yêu cầu tại quầy đằng kia.” Nói xong nhỏ lại trở về với biểu cảm lo âu, như chờ đọi thái độ của tôi.

Điều khó hiểu nhất trong câu truyện thầy bị sét đánh ba lần nằm ở chỗ… tôi tự hỏi một điều như vậy có xảy ra với một người đứng lên mặt đất phẳng như mọi người hay không. Tôi nghĩ là không. Đã từng có giai thoại về những người bị sét đánh cả tá lần nhưng sống sót nhưng về tình huống họ bị thì… Tôi đã suy nghĩ nhiều về các khả năng, và xem ra lần này mình đoán không tệ.

Nhưng nói là thế chứ tôi thật chỉ mong là mình sai. Nghĩ đến đó tôi thấy mình đã đứng trước quầy.

“Xin lỗi, em muốn tìm một tựa báo ạ,” tôi hỏi chị gái đeo kính gọng bạc đang ngồi trước máy tính.

“Được thôi. Em cần tìm gì?"

Tôi giới hạn tìm kiếm chỉ trong năm nhập học Sơ trung, từ tháng tư tới tháng năm.

Tiếng gõ phím vang lên lách cách không đứt đoạn. Thay vì nhìn vào màn hình hay bàn phím chị lại quay sang hỏi tiếp: “Em có từ khóa nào không?"

Suy nghĩ một giây, tôi trả lời: “Chị thử dùm em ‘bị kẹt lại’.”

Không hỏi vì sao hay thay đổi sắc mặt, chị gõ từ khóa vào máy tính. Không biết chị này phải là thủ thư không nhỉ? Trước đây tôi từng ngĩ rằng ai làm ở thư viện cũng là thủ thư, nhưng sau khi thủ-thư-có-thớ Ibara biết được vụ này tôi đã lại trở thành đối tượng châm chọc của nhỏ. Nhưng dù có là gì thì chị này đang làm việc của mình rất thuần thục. Gần như ngay lập tức chị đã lọc ra danh sách những bài báo phù hợp với yêu cầu của tôi.

“Mười hai bài cả thảy. Em có muốn thu hẹp tìm kiếm hơn nữa không?" Chị hỏi.

“Không nhiều đâu ạ. Chị cho em xem được không ạ?" Tôi đáp.

Nghe thế chị liền quay màn hình lại hướng tôi. Xem ra cơ sở dữ liệu ở đây không chứa cả bài báo mà chỉ có tựa đề. Trong số đó tôi rồi cũng tìm thấy những từ ngữ xác nhận nghi ngờ của mình.

NHÓM LEO NÚI KẸT TẠI VÙNG NÚI KAMIKAKIUCHI, VIỆC TÌM KIẾM VẪN ĐANG BỊ HOÃN

“… Báo này xuất bản ngày Chín tháng năm. Tụi mình đi tìm nào.” Chitanda nói bằng giọng không chút bông đùa.

Nhỏ chưa bao giờ giỏi trong việc suy luận. Tôi biết, Ibara biết, và cả Satoshi cũng vậy. Một mình Chitanda thường luôn lâm vào tình trạng không biết sao mà lần, tuy nhiên riêng lần này xem ra nhỏ đã hiểu sự tình. Không nói gì, tôi để nhỏ dẫn đường mà đi theo.

Dù không còn sự hỗ trợ nào nữa nhưng với việc đã biết chính xác ngày phát hành khiến công tác tìm kiếm trở nên nhanh gọn lẹ. Chẳng tốn tới một phút chúng tôi đã tìm ra tờ báo được xuất bản vào sáng thứ sáu ngày Chín tháng năm. Lý do giáo viên dạy tiếng Anh Sơ trung Kaburaya tên Ogi nói rằng mình thích trực thăng nhiều khả năng bắt nguồn từ sự kiện xảy ra trong ngày hôm đó.

Bài báo viết thế này.

HAI THÀNH VIÊN CLB LEO NÚI KAMIYAMA BỊ KẸT LẠI

Vào ngày Tám tháng năm, nhà chức trách thành phố Kamiyama được thông tin rằng Kouichi Tawarada (bốn mươi ba tuổi) và Isao Muraji (bốn mươi tuổi) đã không thể trở lại điểm tập kết vào thời gian đã định. Cả hai đều là thành viên CLB Leo núi Kamiyama và được thông báo là đang kẹt gần đỉnh Shikoro vùng núi Kamikakiuchi. Một nhóm cứu hộ đã được cử đi nhưng mọi nỗ lực vẫn đang chưa có kết quả do tính chất phức tạp của thời tiết quanh khu vực đó. Nhà chức trách thành phố cũng đã bàn giao một trực thăng cứu hộ cho cảnh sát địa phương, và một cuộc tìm kiếm trên không sẽ được tiến hành ngay khi thời tiết chuyển biến theo chiều hướng tốt hơn.

“Vậy nghĩa là… sao?"

Chitanda chỉ là không biết diễn tả ra lời thôi chứ tôi tin là nhỏ hiểu ra rồi. Nhưng dù gì đó cũng là ý của bản thân nên tôi biết mình có trách nhiệm giải thích.

“Nghĩa là thầy Ogi không hề có sở thích về trực thăng.”

Chiều nay có nhiều người trong thư viện hơn là tôi tưởng. Trẻ con và người già, những học sinh trường Kamiyama đang mặc đồng phục y hệt chúng tôi, và cả những người trông có vẻ là học sinh trường khác nữa. Làm ồn trong thư viện là điều không nên, nghĩ vậy tôi bèn hạ giọng xuống.

“Thầy Ogi bị sét đánh ba lần có lẽ là thật, nhưng khó mà tin được điều đó lại xảy ra vơi một giáo viên dạy tiếng Anh Sơ trung bình thường. Đó là điểm khiến tớ suy nghĩ. Nếu đó là vì thầy hay đến những nơi dễ có sấm sét hơn thì sao?"

“Và cậu nghĩ đó là núi.” Chitanda trả lời.

“Đúng vậy. Như vậy thầy Ogi vừa là giáo viên nhưng cũng là một nhà leo núi có thâm niên, chính sự kết hợp đó khiến tớ có một giả thuyết về ý nghĩa lời nói thích trực thăng ngày hôm đó của thầy là gì. Tớ không muốn tin là mình đúng nên mới tới đây để kiểm tra.”

Và giờ đây trước mặt chúng tôi là bài báo năm xưa – nói về hai thành viên trong CLB do thầy làm chủ nhiệm gặp nạn. Tại sao thầy lại ra tạn cửa sổ để ngắm nhìn chiếc trực thăng ấy? Tôi đã nhận ra rằng sự tồn tại của nó mang ý nghĩa to lớn đến dường nào với thầy.

“Thầy Ogi thực sự mong từng phút giây rằng chiếc trực thăng có thể cất cánh. Đó là lý do khi nghe tiếng cánh quạt thầy đã phản ứng dường như là vô thức. Nhìn một người bảo rằng mình thích trực thăng dưới thân phận một giáo viên sẽ chẳng có nghĩa lý gì, nhưng nếu cậu thay ‘giáo viên’ bằng ‘nhà leo núi’ thì nhiều khả năng sẽ mở ra. Thành phố Kamiyama nằm dưới chân vùng núi Kamikakiuchi với những ngọn liên tiếp nhau có khi cao tới ba ngàn mét là một địa điểm không thể lý tưởng hơn giành cho dân leo núi. Và rõ ràng hơn, nếu cậu bắt đầu tự hỏi vì sao một nhà leo núi lại quá quan tâm tới việc một chiếc trực thăng nào đó có bay được hay không thì mọi chuyện sẽ sớm tỏ tường. Thứ liên kết việc leo núi với trực thăng là chụp ảnh trên không và vận chuyển, nếu không nằm trong hai thứ đó… thì chỉ có thể là cứu hộ.”

Giọng Chitanda cũng trở nên thì thầm, dù tôi cảm thấy không phải là vì hai đứa đang ở trong thư viện.

“Báo có nói rằng thời tiết vào ngày Tám rất xấu nên trực thăng không thể cất cánh được.”

“Đúng thế.”

Đến đây là đủ. Nhỏ đã hiểu còn tôi thì không muốn nói lời vô ích.

Điều thầy Ogi thực sự muốn biết là liệu chiếc trực thăng đang trú lại sở cảnh sát thành phố Kamiayama có thể bay được hay không. Giảng cho tụi học sinh năm nhất những con chữ tiếng Anh A, B, C nhưng thầy vẫn lo không biết thời tiết ở ngọn núi xa xăm kia đã chuyển biến tốt hơn chưa. Nếu nắng đã trên triền núi thì trực thăng sẽ được phép cất cánh, và nếu cất cánh thì hai thành viên đang bị mắc kẹt ấy sẽ có hy vọng sống sót.

“Lúc đó thầy đã cảm thấy thế nào…”

Lời thì thầm của Chitanda một lần nữa kéo tôi về cái ngày của ba năm trước.

Thầy Ogi lao đến cửa sổ, tới tận khi âm thanh cửa chiếc trực thăng đã hoàn thành im bặt thầy mới quay lại mà nói rằng: “Thầy thích cái trực thăng này lắm” như một cái cớ. Dù ký ức có mờ nhạt tới đâu thì tôi nghĩ mình vẫn nhớ nét mặt của thầy lúc đó.

“Tớ không biết được, nhưng chắc chắn là thầy đã cười.”

Có lẽ là vì thầy nhận ra mình đang đứng trước học sinh mà thôi.

Trong số báo xuất bản vài ngày sau có tin tức về số phận hai thành viên CLB Leo núi Kamiyama. Trực thăng đã tìm thấy thi thể của họ.

Không bất ngờ mấy, khi chúng tôi rời thư viện thì mặt trời đã lặn. Chitanda và tôi sẽ về bằng hai hướng khác nhau. Đứng trước cổng, khi tôi chuẩn bị nói tạm biệt Chitanda đột nhiên lên tiếng.

“Ưm…”

“Hửm?"

Nhỏ nhìn tôi.

“Tớ hỏi cái này được không?"

“Hỏi đi.”

“Tại sao cậu lại hiếu kỳ?"

Lại điều đó à? Tôi nhận ra mình đang cười.

“Bộ trông tớ bất thường lắm sao?"

Chitanda cũng cười mà đáp: “Thành thật mà nói thì đúng vậy. Chẳng giống cậu chút nào.”

“Ừ. Việc không làm thì bỏ, đã làm thì phải làm cho nhanh mà thôi.”

“Không, ý tớ không phải thế.”

Nhỏ ngay lập tức bác bỏ, nhưng rồi lại ngượng ngùng mà tiếp tục.

“Oreki-san luôn làm rất nhiều thứ cho người khác. Cậu cũng giúp tớ không biết bao lần nhưng đồng thời lại chưa bao giờ quan tâm tới những vấn đề của mình. Thế nên tại sao hôm nay cậu lại muốn tìm hiểu về một điều cậu không chắc chắn lắm… Xin lỗi nhé, tớ không kìm được. Tớ thật sự hiếu kỳ.

Có một điều nhỏ đã lầm – rất rất lầm.

Việc hóa giải sự hiểu lầm này sẽ mất thời gian trong khi trời đã về tối. Tốt nhất là chỉ nên dừng lại ở việc trả lời câu hỏi.

“Khi nghe câu truyện về sét đánh tớ đã suy nghĩ về một khả năng không hay.”

“Đúng vậy, cậu có nói thế.”

“Nếu khả năng đó nếu đúng là sự thật thì tớ sẽ phải thận trọng hơn từ bây giờ, thế nên tớ mới nhất quyết đến để xác nhận.”

Đồng thời nếu phải tốn cả tuần thì đó lại là một câu chuyện khác. Cũng vì câu trả lời có thể được tìm ra chỉ bằng việc đọc vài tờ báo cũ nên tôi mới chủ động thực hiện. Đó là chưa nói tới có người giúp sức nữa.

Chitanda trông vẫn chưa hiểu ý.

“Tại sao lại phải cẩn thận?"

“Sau lần này tớ sẽ không bô bô cái miệng rằng ‘thầy Ogi thích trực thăng’ nữa. Đó là bất kính với thầy, cũng là một kinh nghiệm để tớ cần cẩn trọng hơn trong lời nói của mình.” Tôi đáp.

Không hiểu sao đôi mắt của Chitanda mở to như thể hoảng hồn vì điều gì. Theo phản xạ tôi bắt đầu lo là nãy có lỡ lời gì không, nghĩ một hồi rồi bổ sung vào:

“Bất kính ở đây ý tớ là, ‘Biết thì thưa thốt không biết thì dựa cột mà nghe’ ấy. Dù là có lẽ sẽ chẳng bao giờ gặp lại thầy Ogi nữa nên… tóm lại là tớ cũng chả biết mình đang nói cái gì cả…”

“Oreki-san, cậu thật là…” Chitanda đột nhiên ngắt lời.

Đôi môi nhỏ mấp máy như cố tìm câu chữ, còn mắt chỉ chăm chăm vào tôi. Thứ được thốt lên là một câu duy nhất.

“Tớ không biết nói sao nữa.”

Nhỏ muốn nói gì nhỉ? Mà thôi, nếu đã không biết nói sao thì có khi tôi cũng chả biết nghe sao nữa.

“Rồi, tạm biệt nhé. Cám ơn vì đã giúp tớ.”

“Không có chi. Tạm biệt.”

Chúng tôi chỉ nói có thế. Nhà Chitanda xa đây lắm – dù đi xe thì lúc nhỏ về tới nhà trời cũng sẽ tối om. Nhỏ là người muốn tới đây nhưng tôi vẫn có chút áy náy. Xem như nợ một lần vậy.

Trên đường về tôi chợt hướng mắt về đằng xa, nơi những ngọn núi vùng Kamikakiuchi dần dần hòa mình vào bóng tối.


Tác phẩm để đời của chúng ta[sửa | sửa mã nguồn]

1.[sửa | sửa mã nguồn]

Đâu là quyển truyện tranh đầu tiên tôi được đọc nhỉ? Có lẽ khi ấy vì quá nhỏ tuổi mà tôi không chắc được dù trong đầu có bao nhiêu là đề tựa. Tất cả những gì tôi còn nhớ là mình đã bị cuốn hút vào nó như thế nào.

Trong phòng khách nhà tôi có một kệ sách toàn là những cuốn từ điển hoặc tập san văn học phủ bụi tới mức chẳng nhớ có lần nào chúng được lấy xuống. Tuyệt nhiên không có truyện tranh. Trải nghiệm đầu tiên của tôi với truyện tranh đến từ dì – chị của mẹ tôi. Nhà của dì chẳng khác nào một khung thép được bồi đắp tạm bợ và thô kệch tới mức có thể gọi là xấu đau xấu đớn, nhưng trong đó là những hàng kệ cao đến hoa mắt và chất đầy sách với gần nửa trong số đó là trọn bộ những truyện tranh thuộc mọi lứa tuổi. Thế là như một thói quen, đi học về là tôi sẽ bỏ cặp ở nhà rồi chạy qua nhà dì mọc truyện cho tới giờ ăn tối. Mỗi khi thấy tôi thì dì, như một cực ngược dấu với mẹ sẽ lại cười, xoa đầu tôi mà nói rằng Fan bự của manga Maya-chan tới rồi! trước khi cho tôi ngồi đọc thỏa thích. Nghĩ lại thì có lẽ dì đã chuyển số manga có những cảnh không-phù-hợp-cho-lắm lên những tầng cao nhất, vượt ngoài tầm với của một con bé tiểu học.

Bước ngoặt lớn xảy ra làm năm tôi lên lớp ba. Theo những gì có thể nhớ… là tôi vừa đọc xong bộ “Chim lửa” của tác giả Osamu Tezuka. Cũng có thể là “Wild 7” hoặc “Trở về Terra [5]” nhưng tóm lại là tôi đang đọc với đôi mắt dán chặt vào từng trang truyện, phớt lờ xung quanh như bất cứ khi nào dì bất chợt đến mà cho tôi ăn quà. Biết tôi ăn không nhiều nên dì luôn tránh xa những món quà vặt có thể khiến tôi không còn bụng cho cơm nhà. Riêng ngày hôm đó, vì mới được tặng một trái dưa hấu hảo hạng nên dì muốn cho tôi ăn thử.

“Con ăn chút dưa hấu nào Maya-chan,” dì nói. Tôi cảm thấy mình thật tệ nhưng thú thực rằng mình đã chẳng để ý tới mùi vị của miếng dưa. Tuy vậy điều đọng lại trong tôi là lời dì nói sau đó.

“Sách thật là lạ phải không con? Nó chẳng quan tâm con hay dì hay bất cứ ai là ai, nhưng bất cứ ai cũng có thể viết sách…”

Tôi không biết tại sao dì lại nói vậy. Có lẽ ý của dì là dù việc lái xe hay vận hành máy móc thì cần bằng cấp nhưng viết sách thì ai cũng làm được chăng? Thật là thú vị! Chỉ câu nói đó dường như đã nảy nở một thứ gì trong tôi.

Phải đó… Chẳng lý nào một người như mình không thể vẽ truyện tranh?

Nhận ra điều đó có tác dụng như mở cửa xả lũ. Liền từ tối hôm sau và mọi tối sau đó tôi bắt tay vào vẽ. Tôi không bao giờ ghét vẽ, thêm nữa tôi cũng thường đạt điểm cao nhất khi học Mỹ thuật. Ngày từng ngày niềm tin trở thành sự chắc chắn: tôi có thể sáng tác manga! Và mất bao lâu để sự tự tin ấy tan vỡ nhỉ? Mười phút hay mười lăm? Nhìn lại những “tác phẩm” tệ hại trước đây tôi không thể khiến mình bực tới phát khóc. Lúc đó tôi đã rất tức giận, rất đau khổ… Lời nói “Nó lẽ ra không nên như thế này…” khẽ vang lên qua kẽ hai hàm răng nghiến chặt. Tôi cứ thế vừa tự rủa xả mình vừa rớt những giọt nước mắt lên các trang giấy. Và cuối cùng, tiếng hét phẫn nộ lần sau chót đã kết tinh một sự quyết tâm sắt đá. Từ cái ngày đó tôi vẫn tiếp tục vẽ.

Nguyệt san manga La Shin  có nguồn gốc là một ẩn phẩm phụ được bán kèm với tạp chí có nội dung tương tự tên Shin Soo. Cái tên này có lẽ là tượng thanh cho sự yên lặng nhưng nội dung nó chứa trong thì chả lặng yên chút nào. Không quá thiên về phái nam như Shin Soo, La Shin trung lập hơn – nói cách khác nó là loại tạp chí phù hợp với hầu như mọi tầng lớp độc giả miễn là họ thích truyện tranh. Thực ra thì cũng có không ít những tạp chí vẫn khiến tôi vui vẻ mà gắn mác “Dành cho mọi người yêu manga”, tuy vậy La Shin đặc biệt ở chỗ nó không thiên về bất cứ một phong cách nào, ít nhất thì tôi nghĩ thế, và cũng không xuất bản cái gì quá khó để một độc giả bình thường có thể tiêu hóa được. Thế nên dù không đủ tiền túi cũng như hầu bao để xơi trọn tất cả những ấn phẩm mới nhất từ tất cả các tạp chí truyện tranh thì tôi vẫn đảm bảo mỗi tháng phải có trong tay cuốn La Shin vào ngày nó được bán ra – ngày mười tám.

Và như nhiều tạp chí khác La Shin chấp nhận bản thảo từ các tác giả nghiệp dư đồng thời cũng trao một cái giải tên là “Giải thưởng Tân Thế Giới” cho những bản thảo xuất sắc, bốn lần một năm. Ngoài việc tác phẩm của người đoạt giải sẽ được đăng trên số tháng này thì tựa đề của tầm hai mươi tác phẩm xếp sau sẽ được nhắc đến kèm theo một lời nhận xét ngắn.

Ngày mười tám của tháng hai là một chủ nhật lạnh khủng khiếp. Tuyết rơi không ngưng nghỉ như muốn từ từ nhấn chìm thành phố. Tôi vẫn đi, với khăn choàng quấn che tai và một bộ đồ giữ ấm từ-đầu-đến-chân mà hướng về một hiệu sách tên là Koubundo ngay cạnh đường cao tốc. Như bình thường thì tôi chả muốn ra ngoài trong một ngày dễ có tai nạn giao thông thế này đâu… nhưng quan trọng nhất vẫn là La Shin. Ờ thì mua được đúng ngay ngày nó xuất bản cũng không phải thảm họa gì cho cam. Nhưng mà, vấn đề ấy… là ấn bản tháng ba [6] có một chút đặc biệt.

Lê từng bước chân qua lớp tuyết cao tới mắt cá, cuối cùng tôi cũng đến Koubundo với thời gian gấp năm lần bình thường. Vào tiệm, tôi giành cho mình một giây để thư giãn và hít vào thứ không khí ấm áp của bên trong. Tôi cũng cẩn thận kiểm tra từng phân trên quần áo và phủi hết những vết tuyết còn sót lại. Chỉ khi đảm bảo mình sẽ không làm ướt quyển sách nào tôi mới hướng về quầy tạp chí.

Kết quả là công cốc. Ấn phẩm mới nhất của La Shin vẫn chưa tới tiệm. Theo lời người nhân viên thì việc giao hàng đôi khi sẽ trễ một ngày nếu ngày phát hành trùng vào chủ nhật. Đành chịu, tôi chỉ biết thất thểu lê về nhà. Giờ tan trường hôm sau, khi đã thành công trong việc nhờ vả một người bạn trực thay ca của mình ở thư viện tôi không tới phòng họp của Cộng đồng Manga hay CLB Cổ Điển, mà chạy ba chân bốn cẳng dọc theo con đường đã không còn tuyết mà trở lại Koubundo. Ôm một quyển La Shin bị buộc một sợi dây nhựa để tránh coi cọp trước ngực tôi tiến tới quầy thu ngân để gặp chị nhân viên quen thuộc. Với chất giọng ngọt như mọi khi, chị hỏi:

“Em có cần túi không?”

“Vâng ạ,” tôi đáp với tâm trạng lo lắng.

“Em có cần chị cắt dây cho em không?”

Gò má tôi nóng lên khi tự hỏi chị ấy đang nghĩ gì về mình ấy nhỉ. Cơ mà đâu có gì bất thường trong ứng xử đâu nên tôi đáp “Vâng” và để chị lấy kéo cắt phăng sợi dây đi. Bước ra ngoài tôi lập tức rút quyển tạp chí ra khỏi bao. Hẳn là chả mấy ai háo hức đến mức phải đọc ngay khi mua xong nên tôi cũng hơi ngại những cái nhìn xung quanh, tệ hơn là từ người có quen biết… nhưng chỉ một chút thôi. Tôi lướt qua các trang giấy…

Quán quân Giải thưởng Tân Thế Giới lần thứ mười bốn: “Tanuki phản công”, tác giả Mamoru Mamiana.

Tôi chưa từng biết tới người này. Hy vọng là hay.

Xem qua những bình chọn được đánh giá cao khác - tác phẩm cùa những người này sẽ được đăng trang bìa trên tạp chí. Chả có cái gì trông quen cả… nói cách khác là không có tôi.

Ngước lên bầu trời mùa đông trong vắt, tôi buông một tiếng thở dài nhanh chóng hóa thành làn khói trắng.

Những đề cử khuyến khích giành cho các tác giả Ichitarou Tasaka, MILULU, Kinsuke Shouda, Satou Georgia, Kaoru Yajima, Kazuru Ihara, Enma Haru...

“Hả, cái…”

Một âm thanh kỳ cục lỡ vụt ra khỏi miệng khiến người đàn ông đang chuản bị bước vào tiệm sách liếc tôi một cái khó hiểu, nhưng tâm trí tôi chả còn biết xấu hổ nữa.

“Không… thể nào…”

Kazuru Ihara! “Tòa tháp trên hoang đảo”!

Được công nhận rồi! Tác phẩm của tôi với nét vẽ của tôi dưới bút danh của tôi đã được in trên ấn phẩm tháng ba của La Shin! [7]

Tôi đóng cuốn tạp chí lại, run rẩy, rồi mở nó ra lần nữa. Có thể do kỳ vọng quá mà hoa mắt thôi. Chưa biết chừng mở ra thì nội dung sẽ đổi khác…

Nhưng không.


2.[sửa | sửa mã nguồn]

Đó là một ngày thứ hai tràn đầy ánh nắng của tháng năm. Tôi hướng về thư viện trường sau khi tiết sinh hoạt chủ nhiệm kết thúc. Tại Cao trung Kamiyama tôi thuộc về Cộng đồng Manga, CLB Cổ điển và Ban thủ thư. Dù chỉ có ca trực ở thư viện vào ngày thứ sáu, nhưng thứ hai được giành ra để huấn luyện những bạn thủ thư mới gia nhập hồi tháng tư nên có lẽ xếp mớ sách được trả về hôm nay là điều tối thiểu tôi có thể phụ giúp. Công việc diễn ra nhanh gọn mà không gặp trở ngại gì khiến tôi còn dư dả chút thời gian. Có lẽ qua phòng của Cộng đồng Manga là ý kiến hay, nhưng nghĩ làm sao mà rốt cuộc tôi lại đi lên tuốt tầng bốn hoang vắng của khu Chuyên Biệt, nơi có phòng sinh hoạt của CLB Cổ Điển.

Mở cánh của trượt của phòng Địa Chất, tôi ngay lập tức được chào đón bởi giọng nói vừa thân thuộc vừa tươi vui.

“Ấy dà Mayaka! Canh giờ chuẩn quá. Tới đây coi nè!”

Nhìn thấy Fuku-chan đứng giữa phòng mà vẫy tay không biết từ lúc nào tôi đã nở một nụ cười.

Tất cả thành viên năm hai đều ở đây, chỉ trừ cô bé năm nhất mới vào. Fukube Satoshi và Chitanda Eru – hay tôi vẫn thường gọi là Fuku-chan và Chi-chan – đang ngồi cạnh nhau mà nhìn vào cái gì trông như một quyển tập mỏng. Oreki thì ngồi ở đằng xa, mắt hướng ra cửa sổ với điệu bộ như vừa ăn trúng cái gì.

“Ồ, có gì vậy?”

Thae cặp trên một cái bàn gần đó tôi tiến về chỗ Chitanda. Cậu ấy liền đưa quyển tập cho tôi xem với gương mặt tươi rạng rỡ một nụ cười tươi. Mặt trước của quyển tập ghi “Kết quả cuộc thi Viết cảm nhận sách thành phố Kamiyama”

“Cái này là từ bốn năm trước rồi. Hôm qua khi dọn phòng tớ vô tình nhìn thấy, tự dưng hiếu kỳ mở ra thì lại thấy một cái tên không ngờ!” Chi-chan nói. Lướt những ngón tay thon thả qua từng trang cậu ấy cho tôi xem danh sách người đoạt giải.

Hạng nhất: “Cảm nhận của em về ‘Chú chim xanh’, tác giả Kojima Ami”

Hạng nhì: “Cảm nhận của em về ‘Người tiếp lửa’, tác giả Miyama Jirou”

Hạng ba: “Cảm nhận của em về ‘Chạy đi, Melos! [8]’, tác giả Oreki Houtarou”

Bốn năm trước nghĩa là lúc cả bọn đang học lớp bảy.

“Mayaka-san, khi đó cậu còn chung lớp với Oreki-san phải không?” Chi-chan hỏi.

Đúng thế. Vì một vận xui không nói đâu cho hết mà tôi phải chung lớp với Oreki cả Tiểu học lẫn Sơ trung. Ừ thì tôi cũng mang máng là lúc đó cậu ta được giải thưởng về cuộc thi viết gì ấy nhưng chưa bao giờ đọc. Không ngờ nó còn được lưu lại.

Melos à? Khó mà tin được Oreki lại lấy nó làm đề tài đấy.”

“Giỡn hoài Mayaka. Cậu thực sự nghĩ là Oreki sẽ chủ động chọn một câu chuyện về tình bạn keo sơn để viết á? Chắc hẳn đây là tựa đề được giáo viên phân cho chàng mà thôi,” Satoshi nói.

Suy nghĩ một hồi Chi-chan lên tiếng:

“Hồi học lớp bảy tớ khá chắc là đã bị bắt đọc ‘Vị vua bé tháng mười hai’ của nhà văn Alex Hacke trong kỳ nghỉ hè để viết bài cảm nhận đấy.”

Nhắc mới nhớ, hình như tôi cũng phải đọc cuốn đó thì phải.

Ba chúng tôi quay sang nhìn Oreki cùng một lúc. “Đương sự” quay mặt đi, rồi rốt cuộc không kìm nổi một cái thở dài trước khi quay lại mà nói:

“Đó là một trong những cuốn sách được đề xuất có sẵn ở thư viện… Với lại nó cũng ngắn.”

Ờ. Thế mới đúng là lý do chứ.

Fuku-chan cười tươi, tỏ ra đầy thoải mái.

“Mà Mayaka nè. Bài cảm nhận này hơi bị kiệt tác đó nha. Nó đã khiến tớ rơi nước mắt ấy, cậu tưởng tượng nổi không, lại là từ ngòi bút của bé Houtarou-lớp-bảy.”

Chi-chan gật đầu thêm vào: “Tớ cũng rất ấn tượng. Không bao giờ tớ có thể viết được như thế này.”

Nghe hai lời tán dương lên tận mây xanh thế này khiến tôi cũng có chút hiếu kỳ, nhưng để lịch sự có lẽ tôi nên cần sự cho phép của Oreki.

“Đây đọc được chứ?”

Dù quăng cho cái nhìn rầu rĩ và vẻ mặt hẳn là chả vui vẻ gì, cậu ta trả lời: “Nó có phải của tớ đâu mà.”

Thay vì nói trắng ra là “Tôi chả muốn cậu đọc” thì lại viện cớ đây là thông tin đại chúng à… Thề có trời là cậu chàng chả thay đổi gì cả. Tôi bèn vui vẻ nhận quyển tập mà không quên cám ơn Chi-chan một cái.

Chắc chắn bản gốc là viết tay còn trên đây là bản đánh máy lại.

Cảm nhận của em về “Chạy đi, Melos”

Oreki Houtarou

Em đã đọc “Chạy đi, Melos”. Đó là một câu truyện thú vị. Em rất vui vì Melos đã cứu được Selinuntius và cũng vì sự hồi tâm chuyển ý của vua Dionys. Em đã nghĩ rằng sẽ rất tốt nếu sự hồi tâm ấy được kéo dài.

Ban đầu vốn dĩ Melos không cần chạy. Làng của anh chỉ cách cung điện có mười dặm – hay bốn mươi kilomet trong thời đại này – nên đù có đi bộ thì quá lắm cùng chỉ mất tầm mười tiếng. Lý do khiến Melos ban đầu phải chạy là để bắt mình cắt đứt quan hệ với quê nhà, nên khi đã đủ xa thì chả có gì ngăn anh không được đi bộ như bình thường cả.

Tuy nhiên, có hai lý do khiến anh phải chạy bằng mọi sức lực của mình ở phần cuối truyện. Thứ nhất là việc cây cầu bị nước cuốn trôi sau một trận mưa lớn ngày hôm trước. Lý do thứ hai, căng thẳng hơn, là việc anh bị một toán cướp truy đuổi. Dù bị bao vây tứ phía nhưng anh vẫn đủ sức đánh bại ít nhất bốn tên trong số chúng mà mở đường thoát. Em cảm thấy Melos là một người đàn ông cường tráng. Người bình thường chả đời nào làm nổi, mà có làm nổi đi nữa thì sau đó cũng đuối sức mà đi ngủ nhưng Melos thì không. Anh vẫn chạy để kịp giờ hẹn ước.

Melos chẳng mang trong mình cái gì quý giá và thậm chí anh đã khẳng định ngay từ đầu: “Tôi không mang theo thứ gì đủ để cứu mạng mình cả.” Chỉ cần nhìn thôi cũng biết. Vậy thì bọn cướp muốn điều gì? Chúng đã tự khai nhận. Khi nghe câu nói của Melos chúng đã trả lời ngay: “Bọn ta muốn cái mạng của mi đó!” Vậy là chúng đâu phải cướp? Chúng là sát thủ, dù phải thừa nhận đây là một băng sát thủ yếu xìu. Về việc ai là người ra lệnh ám sát Melos đã nói “Đó chắc chắn là lệnh vua rồi” và bọn sát thủ im lặng. Em nghĩ bọn chúng ít ra cũng có lương tâm nghề nghiệp vì đã không khai thân chủ của mình ra.

Câu hỏi ở đây là: liệu Melos có đúng trong việc cam đoan rằng chính đức vua là người ra lệnh ám sát?

Em nghĩ là không. Nếu có bất kỳ ai mong muốn Melos chết thì đức vua cũng tuyệt đối không nằm trong số đó.

Vua Dionys không tin tưởng ai nên ông cũng không tin rằng Melos sẽ quay lại. Đó chính xác là lý do việc Melos thực sự quay trở về đã tác động sâu sắc mà khiến ông hồi tâm chuyển ý. Không lý nào một người vốn đã không tin điều đó lại phải lệnh cho một toán sát thủ ngăn chặn đường về của Melos cả.

Vậy ai là người đứng giật dây? Ai là người sẽ vui mừng nếu bọn sát thủ thành công trong việc giết Melos?

Hãy tưởng tượng diễn tiến của câu truyện nếu điều đó xảy ra. Khi Melos không thể về cung trước lúc mặt trời lặn thì Selinuntius sẽ bị hành hình, và đức vua sẽ chỉ buồn mà nói: “Đây là lý do vì sao con người không đáng để tin cậy.” Nhưng nếu sau này xác của Melos được tìm thấy thì sao? Như vậy tin đức vua cho xử tử một người vì bạn mình không tới kịp sẽ nhanh chóng chuyển thành “xử tử một người vô tội vì bạn mình bị giết một cách bí ẩn bởi cướp”. Có thể các trung thần kính sợ đức vua nhưng sâu trong lòng họ sẽ vì việc này mà nghi hoặc cũng như phê phán quyết định của ông. Còn nếu xác Melos được giấu kỹ và không bao giờ được tìm thấy thì đó là dấu chấm hết cho mọi cơ hội để đức vua tin tường con người và tiếp diễn những cuộc hành quyết, dần dần tự hủy hoại đất nước của chính mình.

Tóm lại việc Melos chết đi dù thế nào cũng sẽ tác động xấu đến việc trị quốc. Nghĩ theo hướng đó thì kẻ thuê bọn sát thủ phải là người không muốn đức vua hồi tâm chuyển ý trước sự trở về của Melos, để ông tin tưởng và nhận được nhiều sự ủng hộ từ nhân dân hơn. Khi thấy Melos bình an vô sự hẳn là hắn đã chửi rủa nhiều lắm.

Mặt khác, trên đường về cung điện Melos đã gặp một người đàn ông tên Philostratos vốn là học trò của Selinuntius. Dù khi đó Selinuntius chưa bị hành hình nhưng anh ta lại nói với Melos rằng: “Anh đã trễ rồi! Đừng chạy nữa!” Philostratos trông chẳng tỏ ra muốn cứu thầy của mình chút nào. Có thật sự anh là là học trò của Selinuntius không nhỉ? Nhiều khả năng anh ta cũng được gửi đi bời người đã thuê bọn sát thủ, với hy vòn có thể kìm chân Melos lần cuối trước khi anh trở lại cung điện.

Dù lời mở đầu cho đoạn giới thiệu đức vua là “Vua Dionys không thể tin tưởng ai” nhưng em nghĩ sự không tin tưởng ấy bây giờ mới thực sự hình thành. Nhà vua luôn có kẻ thù. Giờ đây, sau vụ việc của Melos thì việc biết ai bạn ai thù với đức vua hẳn sẽ còn khó hơn. Và để tiếp tục âm mưu chia rẽ đức vua với nhân dân kẻ thủ ác đã từng cố ám sát Melos sẽ không từ thủ đoạn nào mà lợi dụng chính sự không tin tưởng đó.

Em rất vui thì vua Dionys đã hồi tâm chuyển ý. Tuy nhiên, sau khi đọc xong “Chạy đi, Melos” em lại nghĩ rằng điều đó sẽ không kéo dài lâu.

Tôi phải đặt tay lên trán.

“Ôi Oreki…”

Tôi không ngờ cậu ta có thể nộp một bài như vậy. Tác giả lúc này lại nhìn ra cửa sổ. Tôi có thể tưởng tượng việc bài viết của mình bốn năm trước bị lôi ra đọc ngay cạnh thì khó chịu tới mức nào.

Fuku-chan nãy giờ vẫn ngồi cạnh tôi háo hức lên tiếng: “Điều thực sự khiến tớ ấn tượng là ở chỗ nó đại diện cho cả Sơ trung Kaburaya đi thi cấp thành phố và còn được giải, hạng ba đang hoàng mới đỉnh chứ! Nói thật mỗi khi làm bài cảm nhận sách tớ đồ rằng hầu hết chỉ viết sao cho vừa lòng thầy cô chứ chả mấy ai thành thật với bản thân mình cả. Kinh nghiệm xương máu đấy! Nên thế này mới gọi là cảm nhận chứ!”

“Đâu phải thầy cô nào cũng thế. Thầy Hanashima dạy môn Quốc ngữ hồi lớp bảy tụi mình đó nhớ không? Thầy hơi bất bình thường,” tôi trả lời.

Tôi vẫn còn nhớ thầy khá rõ việc thầy luôn nhắc đi nhắc lại câu: “Không cần thiết phải nghĩ tới dụng ý của tác giả.” Sau đó thầy sẽ nói rằng: “Có khi lúc đó họ cũng chẳng nghĩ ra cái gì quá hay ho. Dù họ có nghĩ rằng ‘Giờ chỉ muốn uống cho say rồi đánh một giấc đã đời’ mà viết nên những áng văn thì ta vẫn có quyền phân tích nó để tìm những ý nghĩa. Đó là cách mà ngôn ngữ vận hành. Ví dụ như Matsuo Basho [9] từng viết rằng, ‘Tháng và ngày như những nhà du hành vô tận, còn năm thì đến và đi như lãng khách phương xa.’ Nếu diễn dịch theo nghĩa đen mà không bao hàm một dụng ý nào, ta có thể thấy rằng với Basho ‘năm’ không phải là thứ gì đó chỉ đơn giản trôi qua, mà nó đến và đi… Như vậy Basho có thể là một nhà du hành thời gian.”

… Ờ, kỳ lạ vậy đấy. Hẳn là thầy Hanashima đã không những bực bội mà còn rất hoan hỉ nộp bài dự thi của Oreki ấy chứ.

“Không biết chuyện gì sẽ xảy ra với vua Dionys nhỉ. Cậu nghĩ sao Oreki-san?” Chi-chan hỏi, khiến Oreki càng đỏ mặt mà đáp gọn lỏn: “Ai mà biết.”

Đóng quyển tập lại tôi chợt nhận ra một điều.

“Mà Oreki này. Bài của cậu khá dài nhỉ.”

“Hửm?”

Cậu ta quay lại nhìn tôi.

“Những bài viết khác hình như đều ngắn hơn. Chẳng phải bài của cậu gần như mấp mé số lượng từ tối đa hay sao?”

“À, vụ đó.” Một cái cười khẽ, trông đầy cay đắng được trưng lên bản mặt vốn đã nhăn nhó của Oreki. “Tớ tưởng yêu cầu là phải nhiều hơn năm trang nên cố gắng viết chính xác năm trang. Hóa ra là phải viết không quá năm trang. Bực dễ sợ. Rốt cuộc từ cố gắng để đạt mức tối thiểu thì lại thành rỗi hơi mấp mé tới tối đa. Sau khi biết tớ cũng định cắt đi vài đoạn.”

“Cắt bớt sau khi hoàn thành nghe không giống như ‘cố gắng đạt mức tối thiểu’ chút nào,” tôi nói với điệu bộ như chịu thua, nhưng Fuku-chan thì gật đầu lia lịa. “Tớ hiểu cậu mà ông bạn. Là tớ thì tớ cũng cắt.”

Tại sao lại phải làm cái việc giảm cái thứ đã vừa đủ đạt mức tối đa… để đạt mức tối thiểu hả trời? Thế mà cũng “hiểu cậu mà ông bạn” cơ đấy? Tôi bối rối nhìn qua Chi-chan nhưng hiển nhiên là cậu ấy cũng chẳng hiểu. Phải thôi, ai mà hiểu được mỗi khi hai người họ trò chuyện cơ chứ? Các anh chàng của chúng tôi kỳ lạ như nhau. Thế là tôi và Chi-chan chỉ biết khúc khích cười.

Rồi, vậy thì… Tôi nhìn vào đồng hồ mà đứng lên. Không thể ở đây lâu hơn nữa.

“Mayaka về nhà à?” Satoshi hỏi.

“Không, tớ qua phòng của Cộng đồng Manga một chút. Cũng lâu rồi không ghé qua bên ấy.”

Ngay lập tức tôi nhận ra gương mặt của Fuku-chan mất đi sự vui vẻ. Gật đầu một cái, cố hết mức để tỏ ra cho cậu ấy thấy mình ổn tôi nhấc cặp lên và đi.

Từ sau Lề hội văn hóa năm trước, Cộng đồng Nghiên cứu Manga đã rơi vào tình trạng không thể hàn gắn.

Hệ quả của một cơ số chuyện xảy ra trong thời gian này là hai phe cố hữu của CLB – những người muốn thử sức dù có kinh nghiệm hay không với việc vẽ manga và những người chỉ muốn đọc – bắt đầu coi nhau như kẻ thù. Tôi vốn chỉ nghĩ đơn giản: ai thích vẽ thì vẽ còn ai chỉ thích đọc thì cứ đọc mà thôi. Thế nhưng lúc này những mâu thuẫn không đáng có ấy dường như cả kéo cả hai phe ra khỏi sự quan tâm tới manga và chưa có dấu hiệu hồi phục.

Một phần lỗi chắc là ở tôi. Trước đây phe “đọc” có số lượng lớn hơn nhiều, khiến phe “vẽ” không còn cách nào khác ngoài thu mình núp bóng. Tuy nhiên, trong Lễ hội văn hóa một cô nàng bên phe “đọc” đã làm đổ nước rửa cọ lên người tôi, một thành viên phe “vẽ” và điều đó như giọt nước làm tràn ly khiến thiểu số thành viên phe “vẽ” vùng lên phê phán rằng bên kia đã đi quá giới hạn. Ừ thì nhỏ đó chẳng ưa gì tôi thật nhưng công bằng mà nghĩ thì nó không hơn gì một tai nạn cả… nhưng lúc đó việc tôi nghĩ làm sao thì cũng có ai quan tâm đâu?

Khi học kỳ mới bắt đầu và kỳ chiêu mộ thành viên mới kết thúc, một sự kiện đã xảy ra và làm thay đổi tình thế của cả hai phe. Chị Kouchi, thủ lĩnh thực sự của phe “đọc” – dù chị cũng đã sáng tác một manga tuyệt vời trong bí mật – đã rời CLB sớm hơn mọi thành viên năm ba khác. Điều này với phe “vẽ” như là dấu hiệu sự sụp đổ của phe đối địch nhưng không lâu sau ai cũng nhận ra sự hiện diện của chị Kouchi chẳng khác nào là một cái đập; mất nó thì chả có gì tốt đẹp cả. Khi chị còn ở đây thì những lời qua tiếng lại chỉ dừng ở mức bóng gió. Còn giờ đây, tháng năm ở Cộng đồng Manga bắt đầu với những tiếng chửi rủa và xỉ nhục không nể nang gì nữa. Thậm chí nếu nội dung của cuộc xung đột vẫn còn là manga thì tôi chịu được, nhưng những gì nhẹ nhàng nhất tôi đang và sẽ nghe chỉ toàn là “Mày nhìn ngứa mắt quá!” hay “Đừng có cắm rễ ở đây nữa!”

Trong căn phòng Trù bị số Một là phòng sinh hoạt của Cộng đồng Manga, nửa trên được giành cho phe “đọc” còn nửa dưới thuộc sở hữu của phe “vẽ”. Cũng nhờ hai đầu phòng đều có cửa ra vào nên những xung đột do đụng chạm cũng giảm thiểu phần nào. Tôi biết mọi người đều coi mình là đại diện cho phe “vẽ” nhưng vì cảm thấy quả nực cười nên tôi cứ cửa nào gần mình nhất thì vào. Dĩ nhiên lâu lâu việc đó cũng bị mang ra bàn tán là muốn gây sự với phe kia…

Thứ hai hôm ấy, sau giờ học tôi ngồi ở vị trí quen thuộc sát cửa sổ mà bắt đầu phác thảo vài ý tưởng cho manga tiếp theo. Gần đây tôi thường chỉ viết về những câu truyện lấy bối cảnh Nhật Bản hiện đại, nhưng có lẽ thay đổi và tự thử thách mình với một bối cảnh khác cũng là điều nên làm. In điều đó trong đầu tôi liền viết ra những từ ngữ không biết từ đâu mà xuất hiện trong tâm trí – những từ như “máy tính chạy hơi nước”, “đồng hồ lớn (rất là lớn)”, “máy chiên trứng phục vụ toàn thành phố”,… và cứ thế. Bỗng dưng, một cái bóng xuất hiện trên mặt giấy khiến tôi phải ngước lên mà đối diện với một cô bạn năm hai, Asanuma.

“Mình nói chuyện chút được không?”

Vì đây là CLB về manga nên việc vẽ hay phác ý tưởng ở đây chẳng có gì đang ngại, nhưng theo thói quen tôi đóng quyển vỏ lại.

“Được thôi. Chuyện gì vậy?”

“À, chả là thế này. Tớ có một ý tưởng nên muốn tham khảo cậu.” Giọng cậu ấy trông khá bồn chồn.

Asanuma có khuôn mặt thanh, đôi mắt tí hi và chất giọng khá cao. Cậu ấy cũng vẽ manga, có lẽ là một thời dài vì những đường nét của cậu ấy đều được phác rất nhanh và tràn đầy sự tự tin. Đôi khi điều đó khiến tôi phát ghen vì chính mình quá chậm, nhưng mặt khác tôi cũng nghĩ rằng những tác phẩm của Asanuma sẽ còn tốt hơn nhiều nếu được chăm chút thêm tí nữa.

Nhớ lại chuyện hồi Lễ hội văn hóa, dù tôi đứng ra tranh cãi với chị Kouchi nhưng Asanuma mới là người khơi mào cho sự vùng lên của phe “vẽ”. Nếu phải đoán thì có lẽ cậu ấy muốn cải tổ Cộng đồng Manga – nơi giờ đây chỉ cần cầm cây bút lên là đủ để nhận những cái nhìn sắc lạnh – trở thành một thiên đường cho những ai thích và mong muốn được vẽ. Đó là điều tôi chẳng đời nào làm được. Một mặt vì tôi luôn cố tránh né xung đột với phe bên kia và mặt khác tôi thích được tạo ra những tác phẩm theo cách của riêng mình. Có lẽ vì thế mà tôi không thể không ấn tượng về lý tưởng của cậu ấy.

Asanuma đi thẳng vào vấn đề. “Tớ muốn tự xuất bản một manga. Tớ cần cậu giúp đỡ.”

Bất giác tôi nhìn quanh xem có ai gần đấy không nhưng xem ra chả ai để ý. Ý tưởng này quá mới mẻ với tôi. Dĩ nhiên tôi đã từng tự nộp bản thảo trước đây, nhưng làm việc chung với người khác thì…

“Một manga à… thể loại nào?”

Asanuma cũng cẩn trọng nhìn quanh phòng trước khi đáp lại đầy cay đắng. “Theo tình hình hiện tại thì tất cả những gì CLB có cho Lề hội văn hóa sắp tới sẽ chỉ là những ý tưởng bị tranh cãi tới lui. Vào CLB về manga mà lại không được vẽ manga là một ý tưởng quá đần độn dù có nhìn dưới góc độ nào đi nữa phải không? Chi bằng chúng ta tự làm lấy một cái. Cậu có đồng ý không?”

“Ý cậu là lập CLB riêng?”

Cậu ấy lắc đầu. “Không. Làm thế chả ích lợi gì cả… Ý tớ là chúng ta sẽ bí mật sáng tác một manga và cộp nhãn Cộng đồng Nghiên cứu Manga rồi bán vào dịp nghỉ hè. Như vậy chúng ta có thể cho người ta thấy ở đây vẫn có thể vẽ… không, nhầm, cho họ thấy CLB của chúng ta vốn sinh ra là để tạo ra manga.”

Tôi không thể không cảm thấy có cái gì nguy hiểm trong đề xuất đó. Nếu cậu ấy định dùng đòn tấn công bất ngờ này để áp đặt lý tưởng của mình  lên CLB, mở đường cho các thành viên thuộc phe “vẽ” vùng lên thì chẳng phải đó là một cuộc đảo chính sao? Ừ thì cái tình hình chiến sự hai-bốn-trên-bảy hiện tại cũng chẳng đẹp đẽ gì, nhưng quả thật tôi không dám nghĩ tới cảnh có một ngày tác phẩm của mình được sử dụng để chống lại ai hết. Nhưng nghĩ thêm chút nữa tôi nghĩ mình có thể hiểu tại sao việc sáng tác manga có thể khiến mình trông như đã mang lại một ý nghĩa nhất định cho Cộng đồng hiện tại… Ôi mình đang đùa ai thế này? “Tôi nghĩ mình hiểu” chắc là lời nói giảm của thế kỷ mất. Nó chắc chắn mang lại ý nghĩa. Phải chăng từ trước tới giờ tôi đã quá ngây ngô?

“Ngoài tớ với cậu thì còn ai?” Tôi hỏi. Asanuma bèn liệt ra vài cái tên theo từng ngón tay gập xuống.

“Tớ, Tai, Nichiyama, Harigaya, và rồi là cậu. Ngoài ra tớ chưa hỏi thêm ai.”

Tất cả đều là thành viên của phe “vẽ”, dĩ nhiên, nhưng theo hiểu biết của tôi thì Asanuma là người duy nhất trong số đó thực sự đã sáng tác được cái gì ra trò. Tai là người mới nên không biết nhiều, nhưng chắc chắn là em ấy từng nói mình chưa có kinh nghiệm nên muốn gia nhập để luyện vẽ. Nishiyama và Harigaya đều là học sinh năm hai và tôi dám chắc là đều chưa hoàn thành quá một hay hai khung tranh.

“Liệu họ có thể theo một dự án dài hơi không?” Tôi hỏi. Asanuma chỉ cười nhẹ.

“Cũng khó nói, dân ngoại đạo mà. Nhưng tụi mình cũng không cần làm quá dài. Bốn hay năm trang là đủ, hoặc kiểu một trang đôi lớn để quảng cáo cậu biết đấy. Điều quan trọng là càng tập hợp nhiều người vô dự án này càng tốt.”

Thực tình nếu xét việc Nishiyama và Harigaya chưa làm được gì nhiều cho CLB mà mặc định coi là dân ngoại đạo thì cũng hơi quá. Tôi thực sự đã mong một câu trả lời rằng họ có thể làm được. Xem ra việc những người tham gia có làm được hay không chẳng phải là vấn đề của cậu ấy. Đành chịu, với một người chỉ nghĩ tới kết quả sau cùng thì đó không phải gì quá ngạc nhiên…

Asanuma tiếp tục với giọng điệu dịu nhẹ hơn, có lẽ vì nhận thấy sự không thoải mái từ tôi.

“Tớ không nhờ cậu làm ôm tất cả vào mình. Đề tài đã được quyết, vì vậy chỉ cần quăng hết những gì cậu có thể vào đó thôi.”

Dù việc tự hào về tác phẩm của mình hẵng là còn sớm với một tay bút nghiệp dư, nhưng tôi thực lòng muốn nói cho cậu ấy biết rằng manga của mình không phải thứ mà cứ “quăng hết những gì có thể” vào là xong. Dù vậy, với một người như Asanuma mà lại phải nói những điều này thì tôi đồ rằng tình thế của cậu ấy cũng chẳng tươi sáng mấy.

Thôi thì ít nhất cũng nên hỏi.

“Đề tài là gì?”

“Sẽ là ‘Cộng đồng Manga’.”

Tôi không thể kìm lại một tiếng rầu rĩ, còn Asanuma thì cao giọng mà tiếp tục:

“Nếu không làm thế thì chúng ta sẽ không thể phát hành. Tớ sẽ không nói dối rằng những gì mình làm có thể mang lại kết quả ngay tức thì, nhưng nếu tụi mình tốt nghiệp trước khi có cơ hội đại diện cho Cộng đồng Manga của Cao trung Kamiyama mà nói lên lý tưởng của mình thì sẽ không còn cơ hội nào nữa. Tớ không thể không nghĩ tới điều đó. Cậu cũng nghĩ vậy đúng chứ Ibara?”

Tôi thực sự không hứng thú lắm với mấy chức danh đại diện hay gì, nhưng nếu có thể khiến ai đó… một hay hai người đọc truyện do mình sáng tác… Ừ, thế thì có lẽ tôi cũng vui.

“Sao? Cậu thấy thế nào?”

Tôi như đang đứng trước ngã ba đường. Đó là thứ cảm giác do dự trước khả năng tác phẩm của mình bị sử dụng như công cụ chiến tranh và nỗi háo hức đến từ một ước mơ đơn giản: vẽ, và có người đọc. Có lẽ, với tôi miễn sao có người đọc thì mọi tranh cãi trước đó hay sau có thế nào cũng chẳng nghĩa lý gì.

Dường như nhận ra chút hy vọng giữa sự do dự của tôi, Asanuma tiếp tục với giọng điệu thoải mái hơn. “Nếu đồng ý thì cho tớ biết cậu dự định vẽ bao nhiêu trang luôn nhé.”

“Hở? Cậu muốn tớ xác định số trang trước cả khi tớ đồng ý hay không á?”

Không thể tin được. Dù không có kinh nghiệm làm việc nhóm nhưng tôi để ý rằng ở các nhóm thường phải chốt nhân sự trước khi nghĩ đến số trang vẽ, mà đôi khi họ còn chả quan tâm tới điều đó. Ít nhất là với tôi đây là lần đầu nghe tới vụ số trang phải đi đầu và đến trước.

“Ừ. Tớ cần ước lượng để điền vào đơn xin trợ cấp chứ.”

“Trợ cấp từ quỹ CLB sao? Chứ không phải mình tự chi à?”

“Chả có lý nào mình lại phải dốc tiền túi ra cả. Tớ cũng sẽ ghé qua Ủy ban phụ trách chung để nói chuyện và chuẩn bị những gì để có thể xài quỹ. Có tranh cãi thì cũng mặc. Nhưng đến sát lúc đó có lẽ tớ sẽ cần số trang chính xác.”

Liệu thế có ổn không? Quỹ là giành cho cả CLB cho nên mọi thành viên hay ít nhất là hội trưởng Yuasa phải được biết, chứ không thì khác nào mình biển thủ của công đâu? Ngay từ đầu tôi cũng không nghĩ Ủy ban phụ trách chung có nghĩa vụ gì trong việc phân chia tiền quỹ nội trong CLB.

“Cậu cũng phải báo cho hội trưởng nữa phải không?”

Hội trưởng Yuasa không có bất cứ liên quan gì tới đống xà bẩn đang chồng chất trong Cộng đồng Manga. Chị vẫn miệt mài giải quyết các công chuyện như giải quyết đơn xin gia nhập, đơn xin phụ cấp và vân vân, mà thầm lặng giữ cho CLB hoạt động. Tham vọng của Asanuma đã đủ bất ổn rồi nên tôi cần sự hiện diện của hội trưởng để không khiến nó trở nên trầm trọng hơn.

“Ừ… phải nhỉ. Có lẽ tớ phải báo cho chị ấy.” Asanuma càu nhàu rõ là không được vui.

Những gì tôi sắp đồng ý hơi đáng sợ nhưng hy vọng cậu ấy có thể đảm đương hợp lý. Giờ là lúc tập trung vào việc chính.

“Ừ thì, tớ không thể quyết ngay về số lượng được. Tớ rất vui vì cơ hội này nhưng chưa biết sẽ đi thế nào để hiện thực cái đề tài ‘Cộng đồng Manga’ như cậu nói. Đó là vấn đề tiên quyết. Tớ sẽ phác thảo sơ bộ rồi dùng nó làm cơ sở để ước lượng số trang. Thế nên cậu đợi một thời gian được chứ?”

Môi của Asanuma có hơi trề xuống. “Ừ, cậu nói cũng phải. Vậy cần bao lâu?”

Hôm nay là ngày mười bốn, và tôi còn cần phải lên ý tưởng để xây dựng cốt truyện. Nếu điều quan trọng trước mắt chỉ là số trang thì một cốt truyện phác thảo cũng chưa cần chi tiết lắm, thế nên…

“Thứ sáu được chứ?”

“Đã hiểu. Trong thời gian đó tớ cũng sẽ tìm xem có ai muốn gia nhập nữa không.” Và như để chắc chắn cậu ấy cũng thêm vào: “Chỉ hai tụi mình biết thôi nhé.”


3.[sửa | sửa mã nguồn]

Ba mẹ tôi không nói quá nhiều về việc tôi vẽ manga. Không phản đối mà cũng chẳng ủng hộ. Miễn sao học hành chăm chỉ thì cơ bản tôi được phép thoải mái làm những gì mình muốn trong thời gian rảnh. Cái khoản “học hành chăm chỉ” thực tế cũng hàm ý rẳng tôi chỉ được phép vẽ manga vào cuối tuần hoặc nghỉ lễ, vì từng có lần tôi nhận ra vẻ mặt lo lắng của ba mẹ khi thấy tôi vẽ vào ngày đi học. Dĩ nhiên sau lần đó tôi bỏ. Khổ nỗi tôi cũng có những dự định khác vào những ngày nghỉ nên việc vẽ manga thường bị đối mặt với áp lực thời gian.

Lời để nghị của Asanuma tới vào ngày thứ hai và tôi phải trả lời vào thứ sáu. Dù chưa thực sự bắt tay vẽ cái gì nhưng cũng không muốn phá vỡ lời hứa bất thành văn với ba mẹ là không vẽ ở nhà trong ngày đi học, thế là tôi đành làm việc đó ở trường. Vấn đề ở chỗ kế hoạch của Asanuma là bí mật nên hiển nhiên tôi không thể vô tư ngồi làm trong phòng của Cộng đồng Manga. Tôi cũng ước giá như có thể dùng phòng Địa chất – phòng sinh hoạt của CLB Cổ điển nhưng lại chẳng muốn lôi họ vào những vấn đề riêng chúng tôi. Cũng vì lý do đó mà phòng riêng giành cho thành viên ban Thủ thư cũng bị loại khỏi danh sách… vậy xem ra chỉ còn một lựa chọn. Tôi quyết định địa điểm sẽ là chính phòng học của mình – lớp 2-C.

Không biết với ai chứ với tôi việc vẽ manga mà có người lảng vảng gần đó là rất khó chịu, và chắc chắn tôi càng không thể nếu phải vẽ trong lớp với xung quanh đều là bạn cùng lứa. Những gì tôi có thể chỉ là liệt kê những ý tưởng – thứ có thể giúp tôi khi bị nhìn vào chỉ tưởng là đang học hành nghiêm túc. Thêm nữa tôi còn mở một quyển sách cạnh đó để ngụy trang. Mọi thứ có thể liên tưởng đến công việc động não cho manga đã được che đậy hoàn hảo tới mức ông trời hay Oreki cũng chẳng nhìn thấu được.

Giờ tan trường ngày thứ ba, trong phòng học lớp 2-C tôi đang ngồi thẳng lưng, với cuốn tập được che một phần bởi quyển sách lịch sử mà viết ra những ý tưởng đầu tiên. Đây cũng là lần đầu tôi phải sáng tác dựa trên chủ đề của người khác nên có chút gì lo lắng, nhưng vẫn tin rằng không phải không làm được. Asanuma có nói rằng đề tài là “Cộng đồng Manga” nhưng chưa từng đi vào cụ thể là Cộng đồng Nghiên cứu Manga Cao trung Kamiyama. Một nhóm nghiên cứu manga à… Cũng hay. Vậy một câu chuyện lấy bối cảnh tương lai thì sao? Trong một thế giới mà các nền văn hóa đã tàn lụi, một nhóm người đã vô tình khám phá ra di chỉ của một Cộng đồng Nghiên cứu Manga thời xa xưa mà cố gắng khám phá ra ý nghĩa. Nghe có phức tạp quá không nhỉ?

Tôi cứ thế viết ra hết những ý tưởng kiểu vậy vào tập bằng một cây bút chì kim, nhưng dòng suy nghĩ dần dần bị tan vỡ tới mức không thể tập trung được nữa. Nguyên do là vì có vài đứa con gái vẫn còn trong phòng. Một trong số đó là Maki Hani, người có cái tên xuôi miệng tới mức khiến tôi sẽ muốn nói cả họ lẫn tên nếu cần gọi cậu ấy. Trừ vụ cosplay một bộ khá thiếu vải hồi Lễ hội Văn hóa thì Hani trông khá hiền thục và còn lanh lợi nữa. Hơn hết thảy cậu ấy còn là thành viên Cộng đồng Manga. Hiện tại cô nàng đang khá vui vẻ trò chuyện với bạn mình về dự định trong kỳ nghỉ hè.

Thông thường tôi không cố gắng chú ý tới gọi góc kẽ trong sự tình của CLB, nhưng chỉ nhìn là biết Hani cơ bản theo phe “đọc”. Nói thế chứ không thể nói cậu ấy đã chủ động làm gì để ủng hộ cho họ. Mỗi khi hai bên có tranh cãi thì Hani luôn im lặng dù vẫn ngồi ở khu phe “đọc”. Có lẽ cậu ấy cũng giống tôi, bị dính ở một bên trong khi nghĩ rằng những xung đột hiện tại là vớ vẩn. Chúng tôi chưa bao giờ nói chuyện với nhau trong phòng CLB, và những lần đối thoại trong lớp cũng chỉ là vì bài tập.

Có thể dám chắc rằng Hani là tuýp người mà, dù bằng cách nào đó biết được kế hoạch của Asanuma cũng sẽ giữ bí mật. Tuy vậy cậu ấy hoàn toàn có thể biết được tôi đang lên kế hoạch cho một manga nếu nhìn thấy những gì ghi trong đây. Tốt nhất là tôi nên cẩn trọng. Có lẽ là hơi làm quá nhưng ai biết được?

Miệt mài suy nghĩ, viết rồi lại xóa, rồi đột ngột ngước lên canh chừng. Hani vẫn quay lưng lại phía tôi và tiếp tục cuộc trò chuyện đầy niềm vui nãy giờ.

“Cái gì cơ? Đời nào! Đội bóng rổ trường mình dở ẹc.”

Vậy nghĩa là Hani ít nhất cũng đang tham dự vào cuộc đối thoại phải không? Vậy thì tại sao tôi không thể giũ bỏ cái cảm giác như có ai đang theo dõi mình thế nhỉ? Mà thậm chí nếu cậu ấy có thần thánh tới mức biết tôi đang lên kế hoạch cho một manga đi nữa thì nhìn đằng xa cũng có ích gì đâu?

… Có một điều ở Hani khiến tôi dè chừng như vậy.

Cậu ấy rất thân với chị Kouchi – người đã rời CLB. Đó không phải kiểu quan hệ đàn chị-đàn em thường thấy trong một CLB. Tôi để ý cách họ nói chuyện với nhau rất thoải mái như thể là bạn lâu năm. Chị Kouchi cũng được lòng nhiều bạn nữ khác nên mối quan hệ với Hani thường xuyên là chủ đề bàn tán. Theo những gì tôi biết được thì hai người họ sống gần nhà và đã chơi với nhau từ lúc còn nhỏ xíu. Có lẽ Hani đang quan sát tôi thật – người nắm một vị trí nhất định trong mưu đồ lật đổ ách thống trị của phe “đọc” khiêm kẻ thù của cựu-thủ-lĩnh phe bên ấy chăng? Ừ, có thể lắm, nhưng kiểu gì thì cũng nghe như là bước ra từ trang truyện ấy. Nếu không phải vậy thì tôi cũng bó tay. Chẳng hiểu tại sao cậu ấy phải làm vậy.

Ngổn ngang với những nghi ngờ, tôi thấy Hani nhìn vào điện thoại mà lập tức ra khỏi lớp. Xem ra là mình ảo tưởng rồi, tôi nghĩ mà xấu hổ.

Thế nhưng vào hôm sau, Hani tiếp tục ở lại trong phòng sau giờ tan trường, và ngay khi tôi tự hỏi để làm gì lập tức bị một cái nhìn thẳng. Những người còn lại trong phòng chỉ có ba cậu con trai đang bàn luận về bóng đá, Hani và tôi. Bấy giờ tôi đang lập trung tối đa vào những ý tưởng ghi trong tập còn Hani thì bình thản đọc sách. Mội thứ dần trở nên khó khăn nhưng tôi phải cố để hoàn thành bản nháp cho kịp hạn chót.

Có lẽ hơi khác người bình thường, khi bắt tay vào sáng tác manga tôi sẽ viết lời thoại trước. Đó là cách để tôi có thể mường tượng ra sự giao tiếp giữa các nhân vật và dự đoán họ sẽ ứng xử ra sao với các tình huống mình đặt ra. Khó mà chắc được đó có phải là cách hiệu quả hay không vì thực ra sau đó tôi luôn phải thu ngắn lời thoại để bỏ vừa vào các bong bóng… nên tốt nhất cứ tạm coi là không đi. Vả lại, việc xử lý lời thoại trước cũng là cách duy nhất có thể theo vì tôi khó mà không cảm thấy xấu hổ với việc ngồi vẽ mà có người xung quanh như thế này.

Tôi viết dòng hội thoại chính thức đầu tiên đã được suy nghĩ kỹ trong hai ngày qua. Chủ đề ban đầu không khiến tôi ấn tượng lắm, nhưng chẳng hiểu sa càng viết càng cảm thấy hứng khởi. Tôi cũng nhớ về lời bình luận mình nhận được trong số tháng ba của La Shin. Mỗi đợt sẽ có một họa sĩ manga chuyên nghiệp làm công tác chọn lọc và đưa ra những lời nhận xét cho các bản thảo đoạt giải. Lần này là Yutaka Niiro. Lời bình luận của anh cho tác phẩm của tôi như sau:

“Điểm mạnh: nhịp độ lúc cao trào. Điểm tốt: nét vẽ (Cố lên bạn nhé!). Điểm yếu: lời thoại quá dài. Bạn chắc chắn đang ngày càng tiến bộ. Chúc may mắn trong đợt tới nhé!”

Tôi chưa từng biết tới cái tên Niiro khi biết đó là người sẽ nhận xét mình, nhưng sau khi đọc xong tôi đã xài hết tiền tiêu của mình để tìm mua tất cả những tác phẩm của anh. Trước khi có lời nhận xét này tôi cũng lờ mờ nhận ra lời thoại dài là gót chân a-sin của mình rồi nên lần này sự cẩn trọng phải được đặt lên hàng đầu: từ nào cần bỏ và từ nào hiệu quả hơn có thể sử dụng đã được cân nhắc mà viết xuống tập.

Trong lúc mải mê với những con chữ, một giọng nói chợt cất lên:

“Maya-cchi”

Là Hani. Ngẩng đầu lên tôi nhận ra mấy cậu con trai đã đi mất tự khi nào, để lại tôi và cậu ấy là hai người duy nhất trong phòng. Hani không nhìn tôi mà là vào màn hình điện thoại. Đóng tập lại, tôi trả lời:

“Chuyện gì vậy?”

Cậu ấy giờ mới chịu nhìn tôi. Gương mặt không có lấy một chút biểu cảm.

“Họ biết kế hoạch của Asanuma rồi.”

Không có lý nào phải giả ngu cả, điều đó tôi đã lường trước. Dù Asanuma có bảo đó là bí mật nhưng việc đi khắp nơi hỏi han xem có ai muốn vào hay không chẳng khác nào lạy ông tôi ở bụi này. Vậy cũng có nghĩa là Hani thực tế có theo dõi tôi.

“Thế à.”

Với việc bị lộ thì coi như không còn cách nào để chúng tôi có thể tiếp tục vẽ manga bằng tiền quỹ CLB nữa rồi. Ngay từ đầu việc có vẻ Asanuma còn không muốn thông qua ý kiến hội trưởng đã là cái vấn đề. Phát hành manga bằng tiền đóng góp của chỉ những người liên quan, dù nghĩ thế nào thì cũng là một cách tiếp cận quang minh chính đại hơn. Lẽ ra chúng tôi nên làm vậy.

Thở dài như kiểu chịu thua, Hani lên tiếng:

“Maya-cchi trông thật là bình thản nhỉ? Chứ ở đó thì kinh khủng lắm.”

Tôi nhìn chiếc điện thoại trong tay cậu ấy. Dường như vừa có một tin nhắn được gửi tới. Chuyện “kinh khủng” à… tôi hiểu đó có nghĩa là gì.

“Ở bên đó đang có chuyện gì à?”

Hani gật đầu và hơi nhăn mặt.

“Xem ra Asanuma đang bị hành dữ lắm. Ừ, xét về ý định của cậu ấy thì hiển nhiên…”

Khi cái từ “hiển nhiên” được thốt ra tôi không biết nên nghĩ rằng đó là lời mỉa mai xứng đáng giành cho một kẻ mưu tính sau lưng mọi người, hay là lời đồng cảm với quyết tâm của họ dù biết rằng họ sẽ là mục tiêu để đối phương trút cơn thịnh nộ. Chẳng thể nào biết được, thậm chí tôi còn tự hỏi mình đang đứng đâu trong cuộc xung đột này.

“Ừ, tớ hiểu rồi,” Nói xong tôi dọn đồ đạc vào cặp rồi đứng dậy. Trông Hani bất ngờ ra mặt.

“Cậu tính đến đó à? Tốt nhất là tránh đi thì hơn…”

Khá vui vì nhận được sự quan tâm của cậu ấy, xét về việc hai bên không nói chuyện với nhau nhiều nhưng biết đấy… Tôi làm được gì khác nào?

“Tớ chưa quyết định sẽ có giúp cậu ấy hay không, nhưng cũng chẳng thể lờ đi được.”

Khẽ cười, Hani đáp: “Hiểu rồi. Xin lỗi nhưng tớ sẽ đi với cậu.”

Với tư cách là thành viên của phe “đọc” xem ra Hani sẽ không chịu ngồi yên mà để tôi hỗ trợ phe thất thế. Ít nhất thì cậu ấy cũng đã xin lỗi trước.

“Mà Maya-cchi nè, mình cho nhau thông tin liên lạc nhé. Sau này có gì tớ sẽ nhắn cậu một tiếng.”

Gật đầu, tôi lấy ra chiếc điện thoại từ trong cặp.  

Nơi sinh hoạt của Cộng đồng Manga là căn phòng trù bị thứ nhất nằm tại tầng hai dãy Chính, chỉ ngay dưới phòng học lớp 2-C của tôi một tầng. Đường đi hiển nhiên là rất ngắn nhưng có cái gì khiến tôi không thể đi nhanh được. Có mà liệu có cần phải nhanh chóng tới cái nơi mà chắc chắn mình sẽ bị ăn chửi không? Hani không nói gì, chỉ theo sát tôi từ phía sau.

Ngay khi tới phòng sinh hoạt và kéo cánh cửa trượt qua một bên tôi bắt đầu hối hận vì quyết định của mình. Ai cũng thấy quá rõ ràng là “cuộc chiến” đã tới hồi kết: Asanuma, Harigaya và Tai bị vây quanh bởi một nhóm con gái đứng thành nửa vòng tròn. Tai đang khóc nấc còn Asanuma thì nhìn chằm chằm xuống đất mà không nói gì. Ngay phía trước họ là một thành viên năm hai tên Shinohara với hai tay khoanh lại. Vừa nhìn thấy tôi cậu ta liền nói:

“Ibara à? Đợi tới khi tụi này xong rồi mới tới hả? Cũng lanh dữ.”

“Không phải. Tôi chẳng biết gì về vụ này cả.”

“Dĩ nhiên là không.” Sau lời mỉa mai Shinohara quay lại mà trịnh thượng chỉ tay vào ba người trước mặt mình. “Vậy thì để tôi nói thẳng ra vậy. Tụi này thì biết hết đấy. Các người tính cuỗm tiền quỹ CLB để làm cái dự án manga rồi lợi dụng nó đá tất cả những người không biết vẽ ra khỏi CLB phải không? Thật tình đấy, các người có thể bần thỉu tới mức nào?”

Sau khi chị Kouchi rời CLB Shinohara ít nhiều cũng được tôn làm thủ lĩnh phe “đọc”. Ừ thì biết cả rồi đấy, nhưng có cần phải nói bằng cái giọng đó không?

‘Đừng có nói bậy. Asasanuma chỉ muốn Cộng đồng Manga không gây khó dễ trong việc sáng tác manga và đã nói rằng sẽ xin sự đồng ý của hội trưởng Yuasa. Như vậy mà gọi là cuỗm à?”

“Hội trưởng á?” Shinohara lẩm bẩm rồi cười toe toét. “Chị ấy rời CLB rồi. Cần tập trung ôn thi gì ấy. Bộ không biết sao?”

“Cái gì…”

Tôi nhìn quanh hòng tìm kiếm sự tồn tại của chị Yuasa. Vậy là chị đã không còn ở đây, hay đúng hơn là mọi thành viên năm ba khác.

Ra là vậy, tôi tự nói với mình.

Cũng như việc Asanuma cố gắng nắm thế chủ động bằng kế hoạch sản xuất manga thì Shinohara và những người khác dường như cũng xúc tiến trong việc thúc đẩy chị Yuasa, người đứng thế trung lập, ra khỏi chức hội trưởng. Đây là thời điểm các học sinh năm ba bắt đầu rời CLB nên sự tình hiện tại cũng không có gì kì lạ. Là hôm qua, hoặc cũng có thể chỉ mới sáng nay thôi mọi chuyện đã xong mà tôi hề biết. Nhìn mà xem, sự là ra vậy rồi mà còn lo về việc có thể vẽ hay không… Tôi đang làm cái quái gì thế này?

Nhìn thấy tôi dao động Shinohara ngay lập tức bồi vào: “Cơ mà bảo tụi này ‘làm khó’ là làm gì hả? Tôi nghĩ chính tụi nó mới phải nhìn lại mình ấy. Lúc nào cũng ra vẻ cao ngạo, rồi nhạo báng những người không biết vẽ nhưng vẫn muốn gia nhập CLB. Giờ thì tụi nó làm như mình là người bị hại khi bị bảo là dẹp cái trò đâm lén sau lưng này đi cơ đấy. Dẹp dùm! Tụi này chỉ muốn làm những gì mình thấy vui. Chỉ cần nói là thích manga thôi cũng đủ để ba mẹ và thầy cô coi tụi này như những con ngốc rồi, vậy thì tại sao tụi này lại phải chịu đựng những điều như thế cả ở trong đây?”

Những thành viên theo phe Asanuma bấy giờ đều nhìn tôi. Mọi ánh mắt đều lạnh lẽo. Dựa vào bầu im lặng này tôi hiểu họ đều đồng tình với tràng mắng nhiếc của Shinohara nhắm vào tôi và Asanuma.

Tôi không coi họ là lũ ngốc. Tất cả những gì tôi muốn là được vẽ, đồng thời với tôi việc coi thường những người không biết vẽ cũng kỳ quặc như phải xin lỗi họ vì mình biết ấy. Không đời nào tôi làm vậy.

… Nhưng có thật thế không?

Có khi nào mà, dù vô tình không nhận ra, nhưng phần tiềm thức trong tôi đã nổi dậy mà làm điều không hay – như lỡ buông ra lời nặng nhẹ hay tỏ thái độ hay không? Không, bình tĩnh nào. Mình biết là mình không làm mà. Sáng tác manga âu cũng chỉ là một trong số những tài năng. Nó chẳng cao quý hơn việc lộn hàng chục vòng qua những chiếc xà hay ghi nhớ toàn bộ sử sách Nhật Bản. Dĩ nhiên là nó quan trọng với chính người sở hữu nhưng với tôi họ sẽ chỉ là đồ ngốc nếu mang ra ba hoa với người khác.

Mày không được nghi ngờ chính mình Mayaka à!

Tốt nhất là đừng để mình mất bình tĩnh bởi những cái nhìn đó. Bây giờ tôi phải tĩnh tâm để nắm rõ tình hình.

“Vậy… ai là tân hội trưởng?”

Shinohara nở tròn mắt. “Cậu không biết á?”

Xem ra là một người tôi quen rồi. Chắc chẳng phải Asanuma đâu nhỉ? Shinohara giơ tay mà chỉ vào tôi.

“Tớ sao?”

“Không. Đằng sau cậu.”

Tôi quay lại. Người đứng ở đó là bạn cùng lớp, một cô gái có vẻ ngoài rụt rè mà rõ là không như thế chút nào và là người bước vào phòng ngay sau tôi. Hani giơ tay làm dấu hiệu xin lỗi trong khi tôi lặng như phỗng.

“Xin lỗi nhé Maya-cchi. Thật không dễ để nói với cậu.” Đoạn cậu ấy bước lại gần Shinohara mà hỏi: “Họ có chấp nhận không?”

“Tất cả.”

“Tốt. Vậy nói cho Maya-cchi nhé.”

Xem ra họ đang nói về thứ gì đó như lệnh trừng phạt giành cho phe nổi dậy. Với một biểu cảm thoải mái hơn khi nãy, Shinohara bắt đầu nói:

“Tụi này đã nhất trí trước khi cậu đến đây.”

“Tụi tớ không được vẽ nữa phải không?” Tôi nói.

“Nếu các người muốn vẽ thì cứ vẽ, tụi này không cản.”

Hơi bất ngờ với lời tuyên bố tôi liền quay về hướng Asanuma, tuy nhiên cậu ấy vẫn cứ vậy. Có lẽ hiệp định chưa chỉ dừng ở đó.

“Cái manga ấy dù gì thì cũng chết yểu mà thôi. Các người nói thì hay lắm nhưng tụi này thừa biết Ibara là người duy nhất từng làm được cái gì ra hồn. Muốn thử thì cứ việc. Hay là để tôi viết dùm đơn xin trợ cấp luôn nhé? Nếu không hoàn thành được đúng thời hạn thì ít ra tụi này cũng được một phen cười đã đời, và các người dĩ nhiên cũng phải chịu trách nhiệm vì lãng phí tiền quỹ mà rời CLB dùm.”

Thu ngón trỏ vào, Shinoraha lần này lại úp bàn tay trước ngực.

“Còn nhiếu trong một-phần-triệu khả năng mà làm được đi… ờ vậy thì phúc cho các người! Tụi này sẽ để các người muốn làm gì cái CLB này cũng được, và một CLB mới sẽ được lập nên và chơi theo luật của tụi này. Vậy nhé.”

Rồi hiểu. Ngày này rốt cuộc cũng đã tới.

Tôi có dự cảm này cũng một thười gian rồi. Vết nứt giữa hai bên đã trở nên quá lớn để có thể hàn gắn. Dù thế nào thì đến cuối cùng CLB cũng sẽ phân làm đôi.

Tiếng vỗ tay cảu Hani khiến tôi thoát khỏi dòng suy nghĩ.

“Tớ chắc rằng cậu hiểu chuyện sẽ đi đến đâu Maya-cchi ạ. Xin lỗi vì tất cả. Giờ thì chúng ta cứ làm những gì phải làm thôi.”

Shinohara lấy ra một tờ giấy và phe phẩy trước mặt Asanuma.

“Về vụ đơn xin trợ cấp thì tụi này có sẵn ở đây rồi. Điền các thứ, ký tên và hỏi ý kiến thầy phụ trách CLB tụi này cũng làm luôn rồi. Cậu chỉ việc ghi số tiền và mục đích sử dụng vào là xong Asanuma ạ.”

Nghe gọi tên, Asanuma cuối cùng cũng chịu ngước lên mà nhìn vào lá đơn đầy lo lắng, nhưng rồi chỉ chầm chậm lắc đầu.

“Tôi chưa quyết định số tiền. Tụi này chưa nhất trí về số trang sẽ vẽ…”

“Ồ, thôi nào. Không cần phải lo chuyện đó. Nếu không đủ thì mình nộp thêm cái khác thôi. Mười ngàn yên nhé. Bắt đầu luôn là bước quan trọng nhất mà.” Hani lên tiếng.

Như thể bị bùa lú từ giọng nói ngọt ngào kia, Asanuma run rẩy bước về phía trước. Shinohara cũng có sẵn trong tay một cây bút mà đưa cùng với lá đơn. Asanuma cầm cây bút đầy thận trọng, nhung khi chuẩn bị viết thì chẳng hiểu sao cậu ấy đứng đờ như bị cái gì ngăn lại.

“Sao vậy? Sợ à?” Shinohara khích tướng, và tôi có cảm giác mình vừa thấy một tia giận dữ thoáng qua đôi mắt của Asanuma trước khi cậu ấy bắt đầu viết.

Tôi chỉ có thể nhìn những gì đang xảy ra trong sự rời rạc của nhận thức. Rõ ràng có điều không ổn nhưng tôi chẳng thể nghĩ ra đó là cái gì. Mọi thứ đang lao đi quá nhanh chăng? Rốt cuộc thì một câu hỏi cũng được thành hình: tại sao Hani lại gấp gáp trong việc hoàn thành lá đơn thế nhỉ? Nếu bị điền vào thì chuyện gì sẽ xảy ra? Chúng tôi có vẫn được vẽ không… Không, vớ vẩn quá! Đó không phải vấn đề… Nãy Shinohara đã nói gì nhỉ? Tôi tuyệt vọng trong mớ suy nghí và ký ức lẫn vào nhau như bòng bong hòng nhớ lại những từ đó. Dường như đã có một câu thế này.

… và các người dĩ nhiên cũng phải chịu trách nhiệm vì lãng phí tiền quỹ mà rời CLB dùm.

“Khoan đã!”

Tôi lập tức hét lên để ngăn Asanuma nhưng lá đơn đã kịp hoàn thành. Cái tôi nhận được chỉ là ánh mắt trừng trừng khi cậu ấy quay lại, và một giây lơ đễnh là quá đủ để Hani giật lấy lá đơn…

Vậy đấy, hy vọng cuối cùng trong việc ngăn CLB tan đàn xẻ nghé đã bị dập tắt. Chúng tôi lẽ ra đã có thể từ bỏ dự án áng tác manga, không bao giờ lên kế hoạch mà không thông qua mọi người và dần dà hy vọng những lứa sau sẽ hàn gắn lại với nhau. Còn giờ đây, bị đánh tiếng là đã xin tiền quỹ rồi thì đừng hòng lấy cái lý do thậm chí cái manga ấy còn chưa thành hình để thương thảo về thời gian, và dù chúng tôi có không chạm tới một đồng thì vẫn sẽ bị gắn vào cái tội “không sử dụng tiền quỹ một cách hiệu quả” mà thôi.

Tôi vốn không bao giờ ghét một ai bên phe “đọc”, và thậm chí cũng chẳng coi mình là thành viên cốt cán của phe “vẽ” hay bất cứ cái gì hết. Thế nhưng lần này họ đã chơi quá độc. Nếu muốn chia CLB ra ngay từ đầu thì họ có thể tự tách hoặc bảo với tôi và Asanuma làm điều đó. Nhưng không, họ làm ra thế này là để sỉ nhục chúng tôi hết mức có thể. Tôi trừng mắt nhìn Hani nhưng cậu ta đã không còn hướng về mình, mà chỉ nhẹ nhàng bỏ lá đơn vào cặp trước khi bước ra khỏi phòng.

“Được rồi. Chúc các cậu may mắn. Tớ sẽ đi xin chữ ký của thầy.”

Nếu tôi… ngay bây giờ có thể đuổi theo mà tát con nhỏ ấy một cái rồi xé lá đơn đi… Liệu điều đó có cứu Cộng đồng Manga khỏi sự sụp đổ hay không?

… Điều đó chỉ càng làm tệ hơn. Trong căn phòng bấy giờ đã yên lặng, tất cả những gì tôi có thể nghe là tiếng thổn thức của thành viên năm nhất Tai, cho tới khi cô bé có thể nói mà không cần biết ai đang ở xung quanh.


“Em xin lỗi chị ơi. Em thật sự xin lỗi!” 


4.[sửa | sửa mã nguồn]

Tại sao mình lại vẽ manga nhỉ?

Giờ tan học ngày thứ tư ấy, dù bị áp đảo bởi Shinohara và đồng bọn nhưng khi nghe tôi hỏi rằng có nên hủy bỏ dự án không thì Asanuma vẫn trả lời một cái “Không” rành mạch.

“Nếu tụi mình hoàn thành kịp thì Shinohara sẽ rời CLB. Cậu thấy vậy có ổn không?”

Tôi biết đó là câu hỏi thừa thãi vì không họ thì chính chúng tôi sẽ là kẻ bị đá ra. Nghe vậy Asanuma liền cười và đáp lại, trông hơi miễn cưỡng.

“Vậy càng tốt chứ sao? Nêu con đó thực lòng muốn đuổi tụi mình thì tớ không phiền trả lại đúng như vậy.”

Tôi không vẽ manga để đẩy Shinohara khỏi Cộng đồng Manga… nhưng lý do vì sao tôi vẫn cầm bút thì có hỏi cũng chẳng biết phải đáp sao cho trọn. Tại sao lại lạ đến thế? Trong khi hôm qua tôi tưởng như là đã biết?

Sau tất cả, biết hay không thì dự án vẫn tiếp tục như dự kiến.

Tổng thể thì còn xa mới hoàn thành như lời thoại thì coi như xong. Thế nhưng, dù bao nhiêu lần nhìn vào những gì mình viết ra tôi vẫn không thể có cảm giác thỏa mãn. Một cảm giác tựa như déjà vu – ờ thì vì đó là câu truyện về bản thân cơ mà, nhưng cái chính là tôi không thích những gì mình đang làm thì phải. Từ chối vẽ cho tới khi mọi lời thoại đều hoàn hảo như ý chắc phải tốn chục năm quá. Xem ra chỉ còn cách tới đâu hay tới đó vậy.

Tôi chính thức bắt tay vào vẽ trong giờ tan học ngày thứ năm. Dù cơ bản kinh phí đã được chốt nhưng hiển nhiên khó mà cho ra sản phẩm từ đầu tới đuôi với chỉ mười ngàn yên được. Cũng vì vậy mà việc ước tính số trang lại càng cần thiết… hay đúng hơn là Asanuma ghét cái ý nghĩ phải thay đổi kế hoạch do sự áp đặt từ phía Hani. Hơn hết thảy tôi thực cũng không chắc thứ mình vẽ ra có đủ tốt để cho người ta xem không nữa.

Dù còn bừa bộn nhưng chí ít công đoạn chia khung tranh và thêm bong bóng thoại vào đã được hoàn thành nên tất cả những gì còn lại đúng nghĩa chỉ là vẽ. Đến bước này rồi thì phòng học hay thư viện coi như bỏ. Ở nhà, như đã nói, tôi phải loại vì không muốn ba mẹ lo. Vác lên phòng sinh hoạt của Cộng đồng Manga thì chả khác nào công khai thách thức phe bên kia nên lựa chọn duy nhất có thể là phòng Địa chất của CLB Cổ Điển. Tôi thực sự không muốn bên đó bị động chạm bởi chuyện bên này hết mức có thể nhưng… thôi kệ… dù sao thì có phải lần đầu đâu?

Hôm nay chỉ có Fuku-chan xuất hiện. Bình thường những dịp như thế này tôi sẽ rất lấy làm cảm kích… nhưng hôm nay có việc. Vả lại hình như cậu ấy cũng không rảnh rang gì.

“Hây!”

“Hihi.”

Chúng tôi chỉ cười với nhau như vậy. Ngồi xuống một cái bàn hơi xa nhau chút tôi lấy ra quyển tập ký họa. Vẽ phác thảo lên thẳng giấy rồi sau đó đặt thêm một lớp giấy để vẽ chi tiết là quá trình lý tưởng vì điều đó sẽ khiến bước vẽ chi tiết trở nên dễ dàng đi nhiều. Vấn đề ở chỗ giấy và khung cố định đều to và khá cồng kềnh để có thể mang theo mà không bị ai dòm ngó, và… hơn hết giấy chuyên dụng không phải rẻ. Vì vậy tôi đành phải vẽ phác trên tập.

Bắt đầu thôi.

Dường như mỗi đường nét lại đi kèm với một lời cầu nguyện, tôi cẩn trọng vẽ lên khung tranh. Xin thần linh giúp con khiến cho nó đủ hay. Con biết mình vẫn còn yếu kém nhưng đang cố hết sức. Ít nhất lần cố gắng gần nhất của con đã được công nhận nên… cầu thần linh cho lần này cũng như vậy…

Tiết trời xuân tiếp tục những chuyển biến chậm rãi của nó để vào hạ, mà khiến một làn gió thanh bình ùa vào phòng qua ô cửa sổ mở toang. Những đường tôi vẽ thẳng tắp mà không cần tới thước. Những cung tôi họa cũng mượt mà chẳng cần tới com-pa. Nhân vật trong truyện sẽ được mô tả đơn giản với đôi mắt tí hi như những con búp bê cầu nắng. Mọi thứ như dần dần thành hình.

Một điểm dở nữa mà tôi phải thừa nhận chính là việc vẽ trên cùng quyển tập dùng để phát triển lời thoại. Tôi vốn muốn làm mọi thứ trong một quyển tập vì ngại mang nhiều thứ trong cặp. Ban đầu thì không sao vì dù gì đó cũng là phần bắt đầu, nhưng tới trang ba hay bốn thì tôi phải lật qua lật lại để kiểm tra lời thoại và càng ngày càng trở nên phiền phức. Chắc chắn lần sau tôi sẽ chia ra hai quyển đàng hoàng.

Chậm mà chắc tôi tiến từng bước một. Không may là những lúc như thế ý nghĩ khó chịu từ cái chủ đề “Cộng đồng Manga” mơ hồ mà Asanuma đã giao cho tôi lại càng lớn dần mà đè nặng trên từng khung tranh. Tôi cũng cố gạt ra trong đầu ý nghĩ rằng đứa con tinh thần mình đang ấp ủ sẽ đá Shinohara ra khỏi CLB để đầu óc mình chỉ toàn tâm toàn ý cho manga. Có lẽ những cảm giác đó chỉ là tạm trốn đi, mà chực chờ quay lại như thác lũ mỗi khi tôi dừng bút.

Tiếp tục vẽ. Tiếp tục lật qua lật lại để kiểm tra khung tranh và kỹ hơn nữa là diễn tiến truyện, rồi lại tiếp tục vẽ. Đã như thế này bao lâu rồi nhỉ? Đột nhiên tôi phải dừng bút lần nữa vì một sự rung nhẹ.

Ai đó vừa nhắn tin. Mở cặp rồi lấy chiếc điện thoại ra, và trước sự ngạc nhiên của tôi đó là Hani. Tin nhắn chỉ vỏn vẹn một câu.

Tới đây càng sớm càng tốt.

Nếu là Hani gửi thì xem chừng Cộng đồng Manga lại có biến và cậu ta muốn tôi ở đó. Tôi phỏng ra vài suy đoán về những gì sẽ xảy ra nhưng chả có cái nào coi bộ tươi sáng cả. Chẳng lẽ mâu thuẫn lần này lớn đến nỗi trở thành ẩu đả và ai đó bị thương ư? Tôi bật dậy ngay lập tức, làm cái ghế trượt ra sau mà gây nên một tiếng két.

“Á! Hết cả hồn.” Âm thanh vang lên từ bên kia phòng.

Fuku-chan không phải là người duy nhất bất ngờ, vì chính tôi còn quên mất sự hiện diện của cậu ấy.

“Xin lỗi nhé. Có người mới nhắn tin cho tớ.” Tôi lấy cớ rồi nhanh chóng đóng quyển tập lại, và để chắc ăn thêm vào: “Coi dùm tớ!”

Nghe vậy cậu ấy liền nhìn với vẻ mặt khó hiểu. “Cậu muốn tớ coi cho cậu?”

Còn lâu!

“Không, ý tớ là trông hộ tớ.”

“Trồng tức là coi ấy hả?”

Tôi cảm thấy cuộc nói chuyện ngớ ngẩn vì cách dùng từ tệ hại của mình sẽ chẳng đi đến đâu cả, nhưng không còn thời gian nữa. Lao ra khỏi phòng Địa chất, tôi chạy bằng tất cả sức lực của mình.

Nơi cần đến đã đến, nhưng chẳng có gì bất thường cả.

Phe “đọc” vẫn ngồi ở nửa trước còn nửa xong giành cho phe “vẽ” như mọi khi. Mọi người đều hoặc là đọc truyện hoặc là tán gẫu. Dĩ nhiên không khí thì vẫn u ám như vậy nhưng chả có vẻ gì là một cơn tam bành vừa nổ ra cả.

Shinohara đang ngồi trên cái bàn ở trung tâm phe “đọc” mà cười nói với bạn bè. Mặt khác Asanuma thì không có ở đây. Cậu ấy vẫn còn bị sốc vì cuộc hành hạ hôm qua hoặc là bận việc gì khác chăng? Tôi không biết. Phần còn lại của phe “vẽ” trông không tới nỗi sầu thảm nên có lẽ chưa có gì nghiêm trọng xảy ra trước khi tôi đến cả.

Hani là người mình cần mình. Đảo mắt quanh phòng tôi không nhận ra sự có mặt của cậu ta. Nhìn thấy tôi, Shinohara hỏi: “Tìm ai à?”

“À ừ.”

“Asanuma không có ở đây.”

Một trong những thành viên năm hai ngồi gần đó khẽ nhếch mép. “Chắc đang khóc ở chỗ nào rồi,” nhưng Shinohara không tỏ ý muốn phụ họa. Tôi muốn tìm Hani nhưng nói ra ở đây rất có thể sẽ bị hiểu lầm. Có lẽ cứ lờ đi vậy.

“Vậy à. Cám ơn nhé.”

Xung quanh tôi là những tiếng khúc khích. Tôi cũng không chắc, nhưng hình như trong số đó không có tiếng của Shinohara.

Nếu Hani không ở trong phòng sinh hoạt thì khả năng còn lại chỉ có thể là lớp 2-C vì chúng tôi cùng học ở đó. Lẽ ra phải tới đó trước chứ nhỉ. Mà thôi, chắc ăn tôi gửi cho cậu ta một tin nhắn.

Tới phòng sinh hoạt nhưng không thấy cậu. Tớ phải tới đâu?

Đi ra ngoài phòng trù bị số Một tôi chờ khoảng vài phút nhưng không có tin nhắn hồi đáp. Thôi thì cứ đi luôn cho nhanh vậy, nghĩ thế tôi liền đi tới cầu thang mà hướng về phòng học. Tuy vậy khi tới đó tôi vẫn không tìm thấy Hani. Chỉ có tầm năm học sinh trong phòng, vài người trong số đó là lớp khác và tất cả đều ngồi quanh một cái bàn. Gần cửa ra vào có vài cô bạn đang trò chuyện nên tôi bèn hỏi: “À, cậu có thấy Hani-san ở đâu không?”

“Honey ấy à? Tụi tớ ở đây nãy giờ nhưng không thấy cậu ấy?”

Tôi không hiểu vì sao cậu ta lại được gọi là “Honey” [10], chẳng hợp với tính cách một chút nào… Nhưng thôi điều đó không quan trọng. Rõ là có cái gì không bình thường. Nếu không phải phòng sinh hoạt lần phòng học thì cậu ta muốn tôi đến đâu mới được? Tôi còn làm ở thư viện nên cũng có thể… nhưng thật sự tôi chẳng nghĩ là ở đó chút nào.

“Cậu tìm Honey à?”

“Không hẳn. Cậu ấy gọi tớ tới.”

“Tới đây à?”

“Cũng không chắc nữa. Không sao, tớ sẽ đi tìm chỗ khác. Cám ơn nhé.”

Rời khỏi phòng học tôi lại nhìn vào màn hình điện thoại. Chẳng có gì hết. Rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra? Nếu không gặp được Hani thì xem ra chẳng còn cách nào để tôi biết. Lẽ ra tôi nên lấy cả số di động [11]

“Thôi thì về làm tiếp vậy.”

Tôi trở về phòng Địa chất mà hoàn toàn chẳng hiểu gì.

Hành động đầu tiên khi bước vào phòng của tôi là hét lên:

“Quyển tập của tớ!”

Trên bàn lúc này đang trống không. Cái quái gì thế này! Nó biến đi đâu được chứ?

Fuku-chan vẫn ngồi làm bài trong phòng. Nghe tiếng tôi cậu ấy bất giác làm rớt cây bút chì kim xuống đất.

“Cậu… cậu làm tớ sợ lần hai rồi đó. Chuyện gì vậy?”

Trước khi đi tôi đã nhờ Fuku-chan trông dùm quyển tập nhưng do dùng từ không tốt nên cậu ấy hiểu lầm là cho phép mình coi cuốn tập được không… nhưng rõ là tôi đã đính chính rồi mà? Chẳng lẽ cậu ấy thực sự không hiểu sao?

“Fuku-chan này, cậu có giữ cuốn tập tớ để trên bàn không?:

“Không. Dĩ nhiên rồi.”

“Vậy thì nó ở đâu mới được? Sao kì vậy?”

Khi tôi bắt đầu lục trong cặp thì Fuku-chan lên tiếng đầy lo âu. “Ưm… vậy họ không phải là người nhờ cái bạn ấy tới lấy tập dùm sao?”

Bao nhiêu máu cứ như vừa vắt kiệt khỏi người, tôi chỉ biết ngẩng lên nhận thua. Cậu ấy không có vẻ gì là đang giỡn cả.

“Không.”

“… Ôi trời.” Fuku-chan lập tức cúi đầu xuống. “Là lỗi tớ. Một bạn nữ tới đây nói với tớ là được cậu nhờ mà lấy cuốn tập đi mất rồi. Cậu đã bảo tớ trông hộ mà lúc đó tớ lại không hỏi kỹ.”

Vậy là có người trộm ư?

“Khi nào vậy?”

“Lúc đó tớ vẫn đang làm bài nên không rõ… nhưng chắc chắn là không lâu sau khi cậu rời đi.”

“Ai lại làm thế nhỉ?”

“Tớ không để ý kỹ, nhưng cậu ta không phải người tớ quen. Trông dáng vẻ khá là gấp gáp mà hỏi tớ rằng cuốn tập của cậu có ở đây không.”

Là Hani. Không thể khác được. Cậu ta đã nhắn tin nhằm nhử tôi ra khỏi phòng Địa chất rồi nhân cơ hội lấy quyển tập đi. Tôi không hề nghĩ tới việc này. Sự bấn cẩn ấy đã khiến tôi trở thành mục tiêu quá dễ dàng.

“Nhìn cũng hiền lành… trời ơi vậy mà tớ cứ thản nhiên chỉ về phía bàn cậu. Tớ đúng là ngu mà!”

Đó không phải lỗi cậu ấy… chẳng ai nghĩ rằng chuyện này sẽ xảy ra cả. Thậm chí cả cái vụ chiếc bánh sô-cô-la bị lấy trộm mà chúng tôi đã rất nhanh chóng đoán được do ai và tại sao cũng không mang lại hậu quả gì nghiêm trọng. Cậu ấy đã đền bù cho tôi. Tuy nhiên lần này lại khác, tôi lắc đầu khá mạnh.

“Không phải lỗi cậu đâu Fuku-chan. Thực ra nhờ cậu có ở đây nên tớ đã biết kẻ lấy nó là ai rồi. Hồi nãy tớ có hơi to tiếng, xin lỗi nhé.”

Kéo cái ghế cạnh mình ra, tôi ngồi xuống để giữ bình tĩnh.

Hani thuộc phe “đọc” nên xem như đứng ở hai chiến tuyến trong Cộng đồng Manga, dù vậy ở trong lớp chúng tôi vẫn giữ mối quan hệ ở mức bình thường. Không phải là tôi tin cậu ấy hay gì – từ ‘tin tưởng” là quá hào  phóng dành để mô tả mối quan hệ giữa chúng tôi. Có lẽ chính Hani cũng nghĩ vậy khi quyết định không tự mình báo cho tôi biết việc trở thành tân hội trưởng… và rồi lại thế này đây. Xem ra lời đề xuất trao đổi địa chỉ hộp thư ngày hôm qua nhằm “có tình hình gì ở Cộng đồng Manga thì tớ báo cho” chỉ là một cái cứ quá hợp lý để khiến tôi ra khỏi phòng. Cơ bản cậu ta luôn theo dõi và chực chờ cơ hội để cuỗm đi quyển tập.

Nhưng tại sao?

Tại sao cậu ta lại phải lấy nó? Tôi chỉ nghĩ được một lý do duy nhất: vì Hani muốn phá hủy dự án của Asanuma. Một cái bẫy cho tôi và một cú lừa cho Satoshi là kết quả của sự không muốn tôi hoàn thành nó! Mọi thứ như đang đuổi bắt nhau mà cuồn cuộn trong đầu – mối mâu thuẫn chẳng đáng có những hai phe, một manga được dùng làm vũ khí, âm mưu lật đổ cựu hội trưởng và vụ mất cắp lần này. Tại sao? Tại sao chuyện lại thành ra thế này? Tại sao tôi lại là người chịu trận chứ? Cuốn tập có nghĩa lý gì đâu? Mất thì viết rồi vẽ lại mấy hồi nhưng thứ làm tôi đâu đớn nhất chính là việc Hani chứ không ai khác đã trộm nó. Tôi không tin tưởng cậu ta, chúng tôi không thân nhau nhưng tới mức phải hại nhau thì…

"Mayaka. Mayaka!"

Tôi bị kéo trở về với thực tại. Fuku-chan đã rướn người về phía trước mà chăm chăm nhìn.

“Cậu không sao chứ?”

Tôi muốn khóc. Tôi muốn khóc thét lên để được Fuku-chan vỗ về… nhưng lúc này còn quá sớm để chịu thua.

Hít thở một hơi thật sâu. Bầu tâm trí dù còn hỗn loạn trong tôi đang cố thuyết phục mình đây chỉ là một trò đùa quái ác, một cơn ác mộng hay một hiểu lầm gì đó. Không may tôi đủ nhận thức để biết điều đó là không thể.

“Cuốn tập đó quan trọng với cậu lắm phải không?” Fuku-chan hỏi với biểu cảm đầy nghiêm trọng.

“Cùng không hẳn… Tớ đang vẽ trong đó nên không muốn ai xem.”

“Con nhỏ đó ăn cắp manga của cậu?”

Tôi lắc đầu. Đó chưa phải là sản phẩm hoàn thiện để có thể gọi là manga. Nó chỉ là tập hợp các lời thoại, điểm mấu chốt của câu truyện và vài nét phác thảo – nhưng làm sao để giải thích cho cậu ấy hiểu đây? Thấy tôi không nói gì Fuku-chan thu người lại mà đặt tay lên bàn.

“Tớ sẽ lấy nó về. Con nhỏ đó có thể ở đâu cậu biết không?”

“Tớ khá chắc chắn đó là người quen… thôi không sao đâu.”

“Tớ sẽ không nói đó là nghĩa vụ hay gì cả, nhưng nó làm tớ khó chịu tới mức không thể bỏ qua được. Đó là ai?”

Tôi khẽ lắc đầu. “Cậu không làm sai điều gì cả, mà chuyện bị làm to ra thì cũng không hay gì nên… tớ không muốn cậu phải bận tâm về mấy thứ vớ vẩn này.”

Đấy. Lẽ ra tôi cũng không nên vẽ ở đây. Giờ thì xem mình đã làm tình làm tội người khác thế nào này. Vẫn nhìn xuống sàn tôi nghe Fuku-chan khẽ nói: “Mayaka… tớ muốn được bận tâm mà.”

“Tớ biết…”

Fuku-chan bâng quơ nhìn vào khoảng không một thời gian rồi mới lên tiếng.

“Tớ biết mình khó có thể giúp gì nhiều nhưng hãy kể cho tớ. Mọi chuyện. Tớ hiểu bây giờ mà đối mặt với họ thì chuyện cũng chẳng sáng sủa hơn. Tụi mình cùng nghĩ xem có cách nào khác để lấy lại cuốn tập của cậu không nhé.”

Có lẽ dù buồn nhưng lúc này tôi đang cười.

“Cậu thực nghĩ mình phải có trách nhiệm ấy nhỉ.”

“Ừ, phải vậy. Đã biết từ trước là cái Cộng đồng Manga như thế nào rồi mà tớ vẫn để bị dụ.”

Tôi chưa từng thực sự chia sẻ với Fuku-chan mọi chuyện về nơi đó. Tôi không muốn cậu ấy lo lắng… nhưng oái oăm là giờ đây khi phải kể tất cả thì tôi lại thấy bản thân an bình đến lạ.


5[sửa | sửa mã nguồn]

Tôi kể cho Fuku-chan về những gì đã diễn ra cho tới hiện tại. Về việc Asanuma đã nhờ hỗ trợ dự án của mình vào thứ hai. Về việc cái manga này nếu hoàn thành sẽ là công cụ cho cậu ấy nắm thế thượng phong trong CLB. Về việc mà tôi, để ước lượng số trang vẽ mà xin được gia hạn cho ít ngày.

Tôi cũng kể về việc sau giờ học ngày thứ ba mình có cảm giác rằng bị theo dõi bởi Hani khi đang lên ý tưởng trong phòng học. Cuộc xung đột lên đến đỉnh điểm vào ngày thứ tư khi kế hoạch của Asanuma bị bại lộ, và cả việc Hani đã trở thành tân hội trưởng trước khi tôi kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Và về ngày hôm nay, về cái tin nhắn từ Hani đã khiến tôi rời bỏ phòng mà để quyển tập của mình bị lấy đi.

Nghe xong Fuku-chan vẫn im lặng và trầm ngâm dù tôi đã cố vận hết trí óc để sắp xếp mọi sự cho đúng thứ tự rồi. Cuối cùng cậu ấy chỉ cười mà nói: “Ít ra giờ cậu biết là mình bị theo dõi thật.”

Đúng thế. Tới tận hôm qua tôi vẫn làm mọi thứ trong phòng học lớp 2-C. Nếu không trực tiếp theo đuôi thì làm sao Hani biết được tôi lại chọn một nơi biệt lập như phòng sinh hoạt CLB Cổ Điển phải không?

“Nếu tiếp tục vẽ trong phòng học có lẽ chuyện này đã không xảy ra.”

“Tớ không chắc,” Fuku-chan nói mà khoanh tay lại, rồi lại xoắn vài lọn tóc trước khi tiếp tục. “Cậu có nói là vào thứ tư, khi Hani báo tin thì cũng đi theo cậu đúng chứ?”

“Ừm. Cậu ta bảo là Asanuma đang bị dồn vào đường cùng nên tớ liền đi tới phòng sinh hoạt của Cộng đồng Manga. Cuộc xung đột là điều có thật.”

“Và lúc đó tớ đoán là cậu vẫn để cuốn tập trong phòng nhỉ?”

Vậy sao? Tôi cố nhớ lại.

Dù lúc đó chưa vẽ gì nhưng tôi sẽ không để quyển tập tuềnh huềnh như thế. Chắc chắn tôi đã bỏ vào cặp, rồi mang theo khi ra khỏi lớp…

Chờ đã, không! Vì tính sẽ quay lại để làm tiếp nên điều đó đã không xảy ra.

“Tớ có bỏ lại vào cặp nhưng không mang theo.”

“Vậy là hôm qua cậu ta đã có cơ hội trộm nó rồi.”

Tôi hiểu. Đó là chuyện đã không xảy ra nhưng Fuku-chan rất có lý. Lúc ấy chỉ có hai chúng tôi trong phòng nên tất cả những gì cậu ta cần làm là nán lại một chút tới khi tôi đi khỏi, và việc lấy đi quyển tập sẽ dễ như ăn bánh.

Tôi bất giác vụt lên một tiếng “Tại sao…”

Fuku-chan gật đầu đồng tình. “Chính xác là chỗ đó. Tại sao. Sao cậu ta lại phải trộm nó vào ngày hôm nay?”

“Để phá hoại kế hoạch của Asanuma thế thôi? Chứ nếu không thì còn nguyên do nào khác nhỉ?” Tôi đáp có phần bực dọc.

Tuy vậy Fuku-chan chỉ lắc đầu. “Tớ không nghĩ vậy. Từ lúc được nghe rõ ngọn ngành thì tớ đã có một suy nghĩ thế này: chẳng phải nó khá giống với bài văn của Houtarou cách đây ít lâu sao?”

Oreki?

“Cách đây ít lâu” là ý gì?

Fuku-chan và Chi-chan… à rồi, bài cảm nhận văn học của Oreki. Nó thú vị đấy… và thực sự do quá nhiều chuyện xảy ra mà ký ức đó như từ lâu lắm rồi. Không lầm thì bài viết bàn luận về việc ai là người đã ngăn Melos – nhân vật chính trong tác phẩm “Chạy đi, Melos” – trở về cung điện. Tôi chẳng tìm ra giữa điều đó với tình huống của tôi có điểm nào tương đồng.

“Ý cậu là giống chỗ nào?” Tôi hỏi.

“Về mối liên hệ giữa Dionysus và bọn cướp ấy.”

“Dionysus là thần rượu nho.”

“À ờ, lộn. Ý tớ là Dunamis… à thực ra thì không, đó là một thiên thần.”

“Thật á?”

“Tớ nhớ đó là thiên thần của Quyền lực… Mà thôi tạm gọi cái người ấy là ‘ông vua’ đi. Câu chuyện của cậu khiến tớ nhớ đến lời bình luận của Houtarou về quan hệ giữa ông vua đó với bọn cướp.”

Tôi nhớ là Oreki đã không đồng tình với suy nghĩ của Melos rằng chính đức vua là người thuê bọn cướp truy sát mình hòng ngăn anh quay lại.

“Và điều đó liên hệ gì đến tớ?”

“Cậu có nhớ cái luận cứ theo sau không? Houtarou viết rằng vì ông vua vốn không tin Melos sẽ quay lại nên chẳng lý nào phải ngăn chặn điều đó xảy ra. Một phát hiện rất-Houtarou và đây cũng là điểm tớ thấy ấn tượng nhất.”

Tôi cũng cười.

Rồi cậu ấy tiếp tục: “Thế nên đây là điều bản thân tớ nghĩ. Dù Melos có trở lại cung điện đúng thời hạn thì ông vua ổng cũng đâu có mất gì? Melos có lẽ sẽ không quay lại, nhưng nếu một phần triệu trường hợp mà anh ta quay lại thì ông vua chỉ đơn giản là hủy bỏ lệnh hành hình. Thế đấy, nếu nhìn trên phương diện này thì rõ rành rành người thuê bọn cướp không phải là ông vua.”

Tôi hiểu ý cậu ấy. Nếu nhà vua vẫn muốn trung thành với phương châm “không thể tin một ai” thì phải để Melos thử thách nó một cách quang minh chính đại, nhưng chuyện đó so với chuyện thực tế thì liên quan gì nhỉ?

“Giờ quay việc chuyện của cậu,” Fuku-chan nói. “Hani có vẻ như không tin rằng Asanuma sẽ hoàn thành được kế hoạch của mình. Và vấn đề sâu xa hơn là dù nó có hoàn thành đi nữa thì hệ quả cũng chả ảnh hưởng gì lớn tới cậu ta phải không?”

“Ý cậu chả ảnh hưởng là sao? Nếu manga được hoàn thành thì Hani và những người cũng phe sẽ bị ép rời CLB mà?”

“Và chính Hani lại là người đưa ra đề xuất đó.”

Ừ thì, nhưng…

Fuku-chan khẽ gãi cằm. “Trước đây tớ cũng được nghe một mớ thứ từ Cộng đồng Manga. Thêm chuyện cảu cậu nữa thì tớ đã bắt đầu tin rằng không còn cơ hội để hàn gắn như xưa nữa. Những thứ như theo dõi, trộm cắp rồi “lật đổ”… rõ ràng không ám chỉ một tình trạng bình thường chút nào dù có đem so với CLB nào khác trong trường này. Tớ cũng biết Cộng đồng Manga là một CLB thuộc hàng “khủng” với hơn ba mươi thành viên nếu tính cả số năm nhất mới tham gia đợt này. Dù có bị chia làm hai thì mỗi nhóm tớ đồ rằng vẫn có nhiều thành viên hơn một CLB trung bình. Tớ nghĩ là tân hội trưởng của cậu, Hani ấy, vốn đã có ý định hiện thực hóa điều đó… Mayaka thấy sao? Tớ có hiểu lộn chỗ nào không?”

Fuku-chan có niềm hứng thú gần như với mọi thứ trên đời. Dù đối tượng là gì thì cậu ấy vẫn thường tìm hiểu đến hết mức có thể. Từ khi gia nhập Hội đồng phụ trách chung tôi lại càng cảm thấy cậu ấy tinh tường hơn, nhất là về những thứ liên quan với quá trình thực hiện hay tổ chức hội họp, thậm chí là nắm bắt dự định của người ta. Lấy Oreki làm ví dụ. Oreki luôn tự giới hạn việc tiếp xúc với người khác, nên dù sắc bén trong suy luận thì cậu chàng lại thường thất bại trong việc nắm bắt rõ những thứ như lớp vỏ bọc tâm trạng hay lời tự biện hộ được người ta dùng để bảo vệ chính mình. Fuku-chan nhìn thấy hết, và dù vậy cậu ấy cũng không thay đổi cách đối xử. Cá nhân tôi nghĩ đó mới là tuyệt vời.

Nếu Fuku-chan bảo rằng Cộng đồng Manga hết thuốc chữa thì có lẽ nó thực sự đã như vậy. Nội việc âm thầm khiến cựu hội trưởng phải từ chức đã là một nước đi khiến chúng tôi bước đến điểm-không-thể-quay-lại. Tôi chưa bao giờ nghĩ việc chia làm đôi sẽ giúp ích được gì cho CLB nhưng xem ra Hani thì không như vậy. Có lẽ…

Không, vẫn còn điểm mâu thuẫn.

“Nếu vậy thì chẳng phải cậu ta có thể tự rời khỏi đây mà lập CLB mới chứ đâu cần mất công theo dõi tớ? Hoặc tại sao không đơn giản là chấp nhận sự thật là tụi tớ đang làm manga mà bảo rằng hãy tự đi mà lập một CLB riêng lấy?”

“Cậu nghĩ là dễ vậy sao? Nếu làm cách thứ nhất thì chẳng phải các cậu sẽ xem cậu ta là kẻ cúp đầu chạy trốn hay sao? Cậu ta phải giữ thể diện cho mình chứ? Mặt khác nếu làm theo cách thứ hai – tức là đuổi các cậu đi ấy – làm thế quái nào để hợp thức hóa việc loại thành viên ra khỏi một CLB Manga vì họ… lỡ vẽ manga nào? Đem chuyện này đem nói cho giáo viên phụ trách có khi còn bị chửi ấy.”

Ừ nhỉ, rõ là không hiệu quả.

“Tớ không rõ chỗ này cho lắm,” cậu ấy tiếp tục, “nhưng nếu điều kiện cho các cậu là hoàn thành bất kỳ một kiểu manga nào thì nghe có vẻ đâu đến nổi khó khăn phải không?”

“Đúng vậy. Cũng chỉ là lên ý tưởng, vẽ, rồi dùng bất cứ cái máy in cũ nào để in ra là xong.”

“Nếu kế hoạch thành công tốt đẹp thì phe của Asanuma sẽ giành lại thế chủ động và CLB chính thức chia làm đôi một cách yên bình. Nếu không thì lỗi sẽ hoàn thành thuộc về họ mà thế là quá đủ để khiến họ rời CLB phải không?”

Hoàn toàn đúng, nhưng những chuyện sau đó thì tôi không đoán được.

“Nhưng nếu vậy… nếu Hani giống như vị vua trong câu truyện của Melos thì chẳng lẽ cậu ta thật không có chút lý do nào để trộm quyển tập của tớ? Nếu làm vậy chỉ vì vui thì thật là đáng khinh.”

Tôi không nói là sẽ ổn nếu cậu ta thực sự có nội tình, nhưng nếu chỉ vì ân oán cá nhân thì đừng hòng tôi để yên.

Nhìn xuống sàn, Fuku-chan khẽ lẩm bẩm. “Cậu nói phải. Đó là điều duy nhất tớ trăn trở… Ôi bực tình quá… Nếu Houtarou ở đây thì cậu ấy đã nghĩ ra đáp án cái một. Tại sao cậu ta lại làm vậy? Ăn trộm cuốn tập lợi lộc thì chưa chắc nhưng rắc rối thì đầy rồi đấy.”

Lúc nào Fuku-chan cũng nói cái câu nhảm nhí “Một có sở dữ liệu thì không rút ra được kết luận”. Cậu ấy biết nhiều và cập nhật rất nhanh, nhưng lại luôn tự thuyết phục rằng chính vì lẽ đó mà mình không tìm ra sự thật. Nghe như thể bỏ cuộc trước cả khi bắt đầu vậy. Thế mà giờ đây cũng Fuku-chan lại là người tha thiết muốn hiểu rõ ngọn ngành. Không còn những lời như “Tớ không biết” hay “Tớ không thể làm gì hơn được nữa”. Fuku-chan vẫn vững vàng ở đây, mà tập trung hết mức để suy luận về các khả năng…

Tôi cũng suy nghĩ, nhưng cùng lúc không thể rời mắt khỏi anh chàng này không im lặng.

Cuối cùng cậu ấy cũng lên tiếng, mày có hơi nhướn lên.

“Tui mình chắc chắn sẽ lấy lại được cuốn tập Mayaka à, nhưng… thực ra tớ cũng không hiểu tại sao mình có cảm giác này nhưng mà… tại sao tụi mình không bình tĩnh chờ và xem điều gì sẽ xảy ra?”

Xét cho cùng thì dù Fuku-chan có cố gắng và tôi có tức giận đến đâu thì hy vọng lấy lại quyển tập nội trong hôm nay sẽ vẫn là số không vì nhiều khả năng Hani đã về nhà. Nếu cậu ta chỉ định lấy cho vui thì có khi nó đã nằm trong thùng rác, hóa ra tro hoặc dưới đáy sông rồi. Còn nếu không? Thì hy vọng lấy lại coi như vẫn y nguyên… tuy vậy Fuku-chan lại muốn ngồi đợi.

“Tớ mừng khi thấy cậu tự tin như vậy, nhưng tại sao tụi mình phải chờ?”

Lúc này Fuku-chan lại trở nên rối rắm.

“Ừ thì tớ cũng từng nhìn thấy cậu vẽ rồi nên khá chắc là cậu vẫn có thể tiếp tục dù không có cuốn tập đó phải không? Tớ biết là cậu đang giận. Dĩ nhiên tớ cũng không thể cho qua vụ này, nhưng nếu nhìn dưới một góc độ khách quan nhất có thể thì tất cả những gì cậu phải làm là viết lại những nội dung đã mất trên một cuốn tập khác phải không?”

Đúng vậy. Quyển tập không nói lên điều gì cả, và toàn bộ những gì trong đó chỉ tốn ba ngày để thực hiện. Tạm bỏ qua cảm giác ức chế thì những gì tôi cần chỉ là ba ngày nữa.

“Nghĩ theo hướng đó thì dường như ý định của Hani là câu giờ chăng? Có thể cậu ta muốn đạt được một điều gì đó sau ba ngày liên tiếp theo dõi cậu. Nghĩ mà xem, trong hàng trăm tiểu thuyết trinh thám có tình huống bắt cóc con tin thì nhân vật chính luôn phải chờ thủ phạm chủ động bắt liên lạc đúng không? Hãy kiên nhẫn đợi và quan sát tình hình trước khi quyết định hành động tiếp theo.”

“Ừm, nhưng tớ cũng nghĩ nên cản lại càng sớm càng tốt nếu cậu ta thực sự có âm mưu xấu.”

“Ừ. Nếu điều đó xảy ra tớ sẽ bảo vệ cậu.”

… Cũng như không thể không tự hỏi rằng liệu cậu ấy có thể bảo vệ tôi khi có chuyện xảy ra hay không, thì chính tôi cũng cảm thấy chẳng lý nào mình lại không cho phép bản thân tin nào lời nói ấy. Tôi gật đầu cái rụp.

“Được, tớ hiểu rồi. Tớ sẽ chờ một thời gian, và liệu có tốt hơn nếu ngày mai tớ cư xử với Hani như không có gì xảy ra?”

“Tớ biết là khó, nhưng đồng thời lại có cảm giác là chính Hani sẽ sớm chủ động bắt chuyện với cậu. Dĩ nhiên tất cả chỉ là phỏng đoán. Ôi thiệt tình! Thề có trời tớ ước giá mà Houtarou có ở đây.”

Đúng là nếu Oreki ở đây thì cậu ta sẽ làm được nhiều hơn hai chúng tôi cộng lại.

Nhưng vấn đề là chưa tới một lần tôi muốn ước như thế. Cám ơn.


6[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ sáu ngày mười tám tháng năm - đây lẽ ra là một ngày tôi rất chờ mong nhưng mọi thứ lại quá nặng trong đầu.

Vì phải vòng về nhà để lấy chiếc khăn bỏ quên nên tôi đến trường muộn hơn bình thường. Hani-san đã ngồi sẵn trong lớp, nhìn thấy tôi nhưng lờ đi như người xa lạ. Tôi có thể túm vai cậu ta, vừa lắc qua lắc lại vừa lớn tiếng “Trả lại quyển tập đây!” nhưng đã quyết định tin vào lời khuyên của Fuku-chan. Vả lại không khéo lỡ tay lại gây ra tai nạn thì chuyện sẽ càng rắc rối.

Bình tĩnh nào.

Nhưng so với chuyện đối mặt với Hani thì việc phải giải thích cho Asanuma còn căng thẳng hơn. Tôi đã không thể giữ lời hứa sẽ ước lượng số trang cho cậu ấy vào thứ sáu. Đó không phải là thứ có thể thông báo bằng một tin nhắn, thế là tôi bèn chờ tới giờ nghỉ trưa mà đi sang lớp 2-A. Ở đó bấy giờ chỉ có hai tới ba học sinh ở lại dùng bữa trưa, còn lại thì chắc hoặc là ăn xong hoặc là làm những việc khác. Kể cũng lạ - dù chả ai cấm nhưng tôi luôn thấy không thoải mái mỗi khi đi vào lớp của người khác. Khi còn chần chừ đứng ngoài cửa thì tôi bị gọi bởi một nữ sinh mảnh khảnh và rất dễ thương.

“Cậu tìm ai à?”

“A, ừm, Asanuma-san ấy.”

“À, không biết cậu ấy có trong phòng không nữa…”

Cô bạn nhanh chóng quay lại nhìn, và ngay khi thấy Asanuma đang ngồi cạnh cửa sổ cậu ấy liền tới mà vừa nói gì đó vừa chỉ vào tôi. Ngay khi nhận ra tôi có cảm giác sắc mặt của Asanuma như tối sầm đi. Cậu ấy chầm chậm bước đến mà nói:

“Có chuyện gì vậy?”

Một giọng nói vô cảm – có vẻ tâm trạng vẫn còn tệ lắm, và sẽ còn tệ hơn nếu phải nghe những gì tiếp theo đây. Nghĩ vậy tôi lại càng dồn lòng căm phẫn lên “người đó”.

“Tớ có bảo là sẽ quyết định số trang vào hôm nay, cậu nhớ chứ.”

“Ừ.”

Đoạn Asanuma liền nhìn ngó hai bên. Có lẽ cậu ấy không thấy thoải mái khi nói chuyện về manga trong lớp, hoặc chỉ là tăng cường cảnh giác sau lần kế hoạch bị bại lộ chăng? Thấy vậy tôi cũng nói khẽ hơn.

“Xin lỗi, nhưng cậu đợi thêm một chút được không?”

Asanuma nhướn mày lên tức khắc.

“Cái gì? Ý cậu là sao? Chính cậu bảo là hôm nay cơ mà?”

Biết cậu ấy sẽ không vui gì nhưng chẳng ngờ lại phản ứng đến vậy. Tôi đã quyết định từ trước là sẽ không mang chuyện Hani trộm quyển tập ra để làm cớ. Chẳng có bằng chứng nào cả, và nếu, chỉ cần là nghi ngờ thôi, mà chuyện tới tai thành viên phe “vẽ” thì một cuộc tranh cãi lớn sẽ lại diễn ra ở Cộng đồng Manga. Dĩ nhiên nó là cái giá đáng để đổi lấy trong trường hợp tôi mất quyển vở thật, nhưng giờ thì chịu im lặng đã.

“Tớ thực sự, thực sự xin lỗi. Tớ đã nghĩ là hôm nay sẽ xong nhưng công đoạn phác thảo tốn nhiều thời gian quá, và đủ thứ…”

Asanuma thở dài một cái.

“Được rồi. Tớ chỉ mong là cậu không tính nhảy tàu.”

Rõ ràng có một sự độc địa trong lời nói ấy.

“Ý cậu là sao?”

“Tai khóc và trốn rồi. Nishiyama chính là đứa phản bội mà đi nói tất cả, còn cậu ở đây nói tớ là hãy chờ. Tớ có quyền lo là cậu cũng sẽ muốn buông luôn chứ.”

Dù đây là kế hoạch của Asanume nhưng hiển nhiên không có nghĩa là tôi vô tội. Không giữ lời hứa là lỗi rồi. Tôi bèn cúi đầu một cái nữa.

“Tớ xin lỗi.”

“Này, cậu sẽ làm chung với tớ mà đúng không?”

Sự hoảng loạn mà Asanuma đang gửi vào từng lời dường như vượt quá lo sợ của tôi mất rồi.

“Tớ tới đây là để xin lỗi. Cậu không tin tớ ư?”

Cậu ấy lại thở dài, nhưng lần này tự nhiên hơn hẳn.

“Xin lỗi cậu, tớ không được ổn lắm.”

“Tớ cũng vậy. Không sao đâu mà.”

“Vậy… cậu cần bao lâu?”

Tôi đã đi xong một nửa phần phác họa, nên nếu lấy lại được quyển tập vào thứ hai thì thứ ba có lẽ là xong. Còn nếu không thì làm lại từ đầu. Trường hợp tệ nhất đó thì nếu bỏ ra cả thứu bảy lẫn chủ nhật thì…

“Thứ tư… Chắc chắn là thứ tư tuần sau.”

Asanuma gật đầu rồi nhìn xuống sàn nhà. “Tớ hiểu. Xin lỗi Ibara nhé. Tại tớ mà chuyện trở nên phức tạp như vậy…”

Với Asanuma đây là một kế hoạch, còn với tôi đây là cơ hội để được vẽ. Cậu ấy không cần phải xin lỗi. Nghĩ vậy như tôi chỉ trả lời “Chào nhé” rồi rời khỏi phòng.

Khi trở về lớp thì giờ nghỉ trưa cũng gần hết và mọi người cũng dần dần trở về chỗ ngồi. Tiết năm là thể dục. Tôi bước tới bàn mình mà thầm biết ơn vì có cơ hội vận động để thư giãn đầu óc trước khi nhận thấy tiếng bước chân của ai đó phía sau. Quay lại, thứ tôi thấy là một Hani-không-chút-biểu-cảm. Cậu ta mở lời với chất giọng tươi vui như thường ngày.

“Maya-cchi, tan học hôm nay cậu có rảnh không?”

Nếu không chuẩn bị tinh thần trước thì có trời biết tôi sẽ đáp lại thế nào. Chẳng lẽ lại hét toáng lên “Đừng đùa với tôi!” hay là sợ sệt trước một âm mưu gì đó? Tôi đã không làm vậy, trái lại còn vui vì dự đoán của Fuku-chan đã đúng. Nhờ cậu ấy mà tôi có thể bình tĩnh mà nói:

“Tớ trực ở thư viện tới năm giờ. Sau đó thì rảnh. Bộ có chuyện gì à?”

Trong một thoáng Hani dường như soi xét tôi – hẳn là nghĩ rằng đối phương phải dao động đây mà – nhưng nhanh chóng cậu ta trở về với cái cười quen thuộc.

“Xin lỗi, nhưng cậu có thể đi với tớ tới một nơi không?”

Tôi làm bộ nghiêng đầu tỏ ra suy tư rồi đáp: “Ưm, hôm nay tớ không được khỏe, nhưng để làm gì mới được?”

“Tớ muốn trả lại cậu một thứ, và nghĩ là càng sớm thì càng tốt.”

Tôi không giỏi đối phó với kiểu úp úp mở mở này. Mỗi lời Hani thốt ra như lại làm gò má tôi nóng lên chỉ suýt soát mức hết kiềm chế nổi.

“Đúng thế. Càng sớm càng tốt. Vậy muốn tớ đi đâu đây?”

Hani gật đầu.

“Cậu có biết một cái tiệm tên Byron không?”

“Tiệm bánh cạnh trung tâm văn hóa hả?”

“Đúng nó, vậy là tiện hơn rồi. Trong tiệm có một khu giành cho khách uống trà hoặc cà phê. Cậu có thể ngồi trong đó mà chỉ cần gọi trà. Gặp nhau vào lúc năm giờ ba mươi nhé. Ổn chứ?”

Tôi có thể nghĩ quá, nhưng nghe như là cậu ta muốn trao đổi con tin ấy nhỉ. Nghe thì công bằng đấy nhưng rõ ràng tôi đã bị đưa vào thế đã rồi. Rất muốn được thẳng miệng từ chối nhưng tôi kịp kiềm lại, mà thay thế nỗi tức giận bằng một nụ cười.

“Dĩ nhiên! Tớ mong lắm ấy.”

“Tớ biết. Vậy thì năm giờ ba mươi nhé.”

Lẽ ra hôm nay là một ngày tôi rất chờ mong nhưng mọi thứ vẫn quá nặng trong đầu. Chuông vang lên và tất cả nữ sinh trong lớp lần lượt nối nhau đi tới phòng thay đồ.

Tôi rời khỏi trường lúc năm giờ lẻ năm. Bước những bước gấp gáp tới nơi hẹn tôi cảm thấy đầu mình như ong lên vì nhiều nỗi trăn trở.

Đầu tiên là việc Hani chủ động tiếp cận đúng như Fuku-chan dự đoán khiến sự chờ đợi của tôi rốt cục cũng chỉ mỗi một ngày. Cậu ta muốn làm cái quái gì nhỉ? Quyển tập chỉ là mỗi câu để ép tôi gặp riêng thôi sao? Khó mà như vậy. Dù chúng tôi không thân nhưng nếu muốn nói chuyện thì tôi chẳng có lý do gì để từ chối. Quyển tập chắc chắn không bị lấy đi vì lẽ đó.

Hay là muốn nhìn trộm nội dung để biết chính xác thứ mà Asanuma sẽ dùng để chống lại mình? Nếu Hani xin dược xem quyển tập thì có lẽ tôi sẽ tìm một lý do nào đó để từ chối. Vì… xấu hổ lắm, nhưng để làm thế thì có cần phải lấy đi luôn không? Không, tôi tự phủ quyết. Chỉ vì chắc chắn rằng mình sẽ đi đến cùng trong việc từ chối chẳng có nghĩa Hani cũng muốn chơi tới cùng bằng thủ đoạn nặng tay như vậy. Người như cậu ta sẽ lịch sự hỏi trước…

Tự dưng tôi bắt đầu thấy mình như bị bỏ vào hộp kín mà cố tìm hiểu chuyện bên ngoài trong mù mờ, nên có lẽ tốt nhất là dành suy nghĩ cho một vấn đề khác. Liệu tôi sẽ thấy khó chịu cỡ nào khi ngồi nói chuyện với Hani? Cơ mà cũng chưa chắc chỉ có hai mặt một lời nữa. Liệu cậu ta sẽ mang theo bao nhiêu người? Tôi sẽ làm gì nếu đến đó và nhận ra cả bộ sậu phe “đọc” đều đã chờ sẵn mà tiếp đón tôi như kiểu “Ồ tới rồi đấy. Tiên là ngợi khen lòng dũng cảm, còn hậu thì chuẩn bị ăn đòn của tụi này nhé!” chăng? Không, chắc không tới nỗi đó đâu. Nếu họ muốn hội đồng thì ở trường có khi còn dễ hơn. Dù vậy cũng không thể loại trừ việc Hani sẽ có ai hộ tống nên chẳng phải tôi cũng nên nhờ Fuku-chan, Chi-chan hay Asanuma sao? Nhưng lại là không! Đây là vấn đề của tôi vả phải được giải quyết bằng hết sức có thể từ tôi.

Giờ hẹn chỉ cách thời điểm kết thúc ca trực thư viện ba mươi phút nên tôi không đủ thời gian để ghé qua tiệm sách. Tôi đã mong chờ, hay đúng hơn là lo lắng, về cái ngày ngày lâu rồi, nhưng khốn khổ ở chỗ là chẳng thể nhờ ai làm dùm cái việc đó được.

Năm giờ ba mươi… hy vọng có thể xong chuyện sớm. Mẹ không bao giờ nói gì khi tôi về trễ ngoại trừ một biểu cảm rõ là không hài lòng. Để cho chắc tôi cũng gửi một tin nhắn bảo rằng mình có ca trực ở thư viện và hoạt động CLB nên sẽ về trễ, dù vậy tôi vẫn mong là kịp bữa tối.

Tôi cũng chẳng thích cái ý tưởng gặp nhau ở Byron chút nào. Kamiyama là một thành phố nhỏ nên số cửa tiệm bánh âu cũng không nhiều. Trong số đó Byron là nổi bật nhất với những loại bánh nức tiếng cả vùng. Hồi tiểu học cứ mỗi dịp sinh nhật là tôi lại được ba mẹ mua cho một cái bánh Byron, và cả cái bánh lần trước mang qua nhà Chi-chan cũng là mua ở đó. Công nhận nơi đây không có quá nhiều địa điểm mà những học sinh Cao trung như tôi và Hani có thể gặp mặt, nhưng tôi không muốn những kỷ niệm đẹp của mình ở Byron bị vấy bẩn bởi dù là cái gì chúng tôi sắp quăng vào mặt nhau đây.

Nhưng đây là chuyện không tránh được. Khi còn mải mê nghĩ này xét nọ tôi đã thấy mình đứng trước những bức tường trắng và hàng ngói màu xanh hải quân độc đáo của tiệm Byron. Chiếc đồng hồ lúc này đang chỉ năm giờ hai mươi bảy phút. Vừa kịp.  Do đi hơi nhanh nên tôi nhận ra nhịp thở mình có hơi gấp cũng như ra mồ hôi một chút. Hít thở vài hơi sâu, tôi lấy khăn tay ra mà thấm thấm lên trán.

Rồi, giờ tôi đã đi đến đây thì không cần lo âu gì nữa. Chả cần biết là cọp hay beo tôi cũng sẽ đập hết, lấy lại quyển tập rồi về nhà. Vỗ nhẹ hai tay vào má một cái tôi tiến vào bên trong.

Những chiếc bánh đủ màu sắc được xếp ngay ngắn trong tủ giữ lạnh của tiệm. Lúc này hình như đang là mùa đào và sắp tới mùa anh đào nhỉ? Tôi lê mắt qua những chiếc bánh phủ sô-cô-la và dâu nhưng chẳng có hứng vị gì cả. Người phục vụ đang đứng quầy mang một bộ đồng phục toàn đen với cổ áo trắng và nón vải cũng đen khiến tôi liên tưởng với một ma sơ. Với giọng nói giọng ngào cùng một nụ cười tươi chị nói: “Xin chào quý khách.”

“Dạ, em muốn dùng cà phê.”

“Vâng, mời quý khách vào khu trong cùng ạ.”

Tôi chưa từng đi sâu vào Byron đến thế. Theo hướng chỉ tôi băng qua dãy hành lang hẹp được thắp sáng lờ mờ và đột nhiên thấy mình đang đứng giữa một không gian rộng. Phòng có trần cao cùng những khung cửa sổ to bản, ngoài ra còn có một cái đồng hồ quả lắc lớn tựa lưng vào tường mà đứng trên lớp sàn gỗ. Dù được Hani gọi là “một khu nhỏ” nhưng với tôi nó phải cỡ một hội trường cỡ trung. Có lẽ giờ này đã quá trễ cho một bữa trà chiều nên không có mấy khách… đúng hơn là chỉ duy nhất một người. Cô gái trong bộ đồng phục thủy thủ có lẽ đã nghe tiếng bước chân mà từ từ quay lại.

“Mừng vì em đã tới, Ibara.”

Tôi như chết lặng.

Ờ thì nãy có nói là không sợ beo chẳng sợ hổ nhưng tôi không nhờ lại gặp người này ở đây. Học năm ba tại Cao trung Kamiyama và là cựu thành viên Cộng đồng Nghiên cứu Manga – chị Ayako Kouchi.

Chị cười nhẹ mà tiếp tục: “Chị không ăn thịt em đâu mà lo. Mà bộ Hani không nói gì cả à? Thôi đừng lo, và chị sẽ thầu kèo này… dù gì chị cũng là đàn chị của em mà.”

Mâu thuẫn giữa phe “đọc” và phe “vẽ” trong Cộng đồng Manga đã nhen nhóm từ Lễ hội văn hóa năm ngoái, nhưng chỉ bùng lên sau sự kiện chị Kouchi – thủ lĩnh bất thành văn của phe “đọc” – quyết định rồi CLB sớm hơn mọi thành viên năm ba khác. Khi người giữ vai trò như cái nắp của một nồi lẩu xung đột mất đi thì nơi đây đang đứng trên bờ vực của sự tan rã. Vậy mà bây giờ người đó đang đứng đây mà nói chuyện về Hani. Tôi hoàn toàn không hiểu nỗi chuyện gì đang xảy ra, và điều đó khiến tâm trí bị tràn lấp bởi một mong muốn nhanh chóng quay đi mà bức tốc ra khỏi tiệm. Nhưng ít nhất tôi vẫn nhận thấy cái vẫy tay của chị.

“Đừng há hốc mồm mà đứng đó thế. Tới đây ngồi nào.”

Lời của chị bình thường nhưng tôi nhận thấy có chút gì căng thẳng trong giọng nói. Chẳng có vẻ gì là một cuộc tranh cãi sẽ xảy ra cả nhưng tôi cũng không dò ra được là chị muốn gì. Vừa suy nghĩ tôi vừa thận trọng tiến tới cái bàn.

Trước mặt chị chị là một tách đầy trà đen, một cái ấm có họa tiết là những bông hoa và một quyển tập. Trên chiếc ghế bên cạnh cái chị ngồi có một cái túi giấy có vẻ như là chứa vật gì có độ dày cỡ quyển tạp chí bên trong. Không có menu trên bàn, nhưng nhanh chóng chị phục vụ nhìn-như-ma-sơ lúc nãy đã đến và đưa cho mỗi người chúng tôi một cái.

Chả có bụng dạ nào nên tôi gọi trà đen.

Khi chị phục vụ rời khi thì một lần nữa chúng tôi hai mình trong phòng. Chẳng hiểu sao tôi lại nhớ về việc Fuku-chan nhận xét sự việc của tôi giống với bài cảm nhận văn học của Oreki. Bài viết bình luận rằng người đứng đằng sau giật dây không phải đức vua xem ra lại giống với việc có một người đã khiến Hani phải trộm quyển tập của tôi. Đó là đã biết từ trước hai người rất thân nhau rồi ấy…

Chị Kouchi nhấc tách trà lên, khẽ chạm môi rồi đặt xuống đĩa lót nghe một tiếng keng.

“Vậy, gần đây ở đó thế nào?”

“Tệ hại.”

Có lẽ chị muốn bắt đầu bằng cuộc trò chuyện phiếm nhưng tôi không thấy lý do gì để nói giảm nói tránh cả. Nó đã đè nặng tinh thần biết bao lâu rồi?

“Mọi người sỉ nhục và mắng nhiếc nhau như chốn không người. Em muốn phát bệnh. Tại sao chị lại rời CLB vậy?”

Nếu chị Kouchi trì hoãn việc đó chỉ một chút thôi, có khi CLB đã có thể hồi phục trước khi thành ra thế này. Tôi không ghét chị vì điều đó. Ai cũng có quyền tự do gia nhập và rời bỏ CLB bất cứ lúc nào họ muốn, nhưng tôi chỉ là không thể không nghĩ rằng sự rời đi của chị phải nhận lấy trách nhiệm.

“Ừ, ờ… thì…”

Chị ấp úng trước khi nhấc cái tách lên để đổ vào thêm chút trà như thể muốn tránh trả lời. Không lâu sau chị phục vụ quay trở lại để mang tách trà đen cho tôi.

“Tôi xin đề xuất quý khách chờ khoảng hai phút trước khi uống. Quý khách có dùng đường không ạ?”

Thường thì tôi sẽ uống cà phê và trà chung với đường. Chỉ riêng lần này tôi lại muốn uống cái gì đó đắng.

“Dạ không, cám ơn chị.”

Người phục vụ lại đi ra. Không thể chịu đựng bầu yên lặng tôi đành phải lên tiếng.

“Kia là quyển lập chị lấy của em phải không ạ?”

Vẫn nhìn vào tách trà chị đáp: “Ừm, chính là nó.”

Suýt nữa tôi đã hỏi tại sao, nhưng chuyện quan trọng trước nên được làm trước.

“Trả cho em.”

Tôi sẽ không tiếp tục cuộc trò chuyện này một giây nào nữa nếu chưa nhận lại quyển tập về. Biểu cảm của chị Kouchi trông rất lạ, như thể một cái cười mỉm gượng ép trước khi chị nói “Dĩ nhiên” mà đặt tay lên quyển tập. “Nhưng nhận lại rồi đừng chạy nhé.”

“Chị muốn ép em làm gì sao?”

“Chị biết em rất giận. Ừ, chị không có cái cớ nào khác.” Đoạn chị đặt tách trà xuống mà cúi đầu trước mặt tôi.

“Chị xin lỗi. Là lỗi của chị, nhưng vì chị thực sự muốn em nghe một điều.”

Tôi không định tha thứ… hay đúng hơn là chả biết phải tha thứ chị ấy về điều gì nữa. Đanh giọng lại một chút tôi trả lời.

“Vâng. Nói thật là em vẫn còn giận, nhưng em sẽ nghe.”

“Cám ơn em.” Chị đẩy quyển tập về phía tôi mà thêm vào. “Chị không nhìn trộm đâu.”

Vừa có trong tay tôi liền ôm chặt quyển tập vào lòng. Tôi muốn kiểm tra xem nội dung có còn toàn vẹn không nhưng làm thế nghĩa là không tin tưởng chị. Thôi thì về nhà rồi tính. Trong tập chỉ có vài câu thoại và mấy nét phác thảo không phải không thể thay thế, nhưng giây phút nó được nhét vào cặp mới là lúc tôi thực sự cảm thấy rằng mình toàn vẹn mà giũ đi những muộn phiền trước đó. Nhất định phải báo cho Fuku-chan ngay khi về nhà để cậu ấy đỡ lo.

Đổ chút trà vào tách tôi làm một hớp nhỏ, để thứ trà ấm áp từ từ thấm xuống họng rồi vào bụng làm tan biến bao mệt mỏi trước khi nhìn thẳng vào chị Kouchi.

“Vậy chị muốn nói gì với em?”

“Ừm.” Dường như chị cũng thôi căng thẳng mà đáp trả lại bằng một cái nhìn sắc bén. “Ibara.”

“Vâng?”

“Rời Cộng đồng Manga đi.”

Thế ra cũng là vậy. Khựng lại một hồi tôi đáp:

“Vậy chị lấy quyển tập chỉ để đe dọa em như thế?”

Đe dọa á? Ờ thì chị biết là chị sai nên khó mà nói lại được.” Đoạn chị thở dài mà hơi cúi đầu xuống, nhưng cùng lúc lại mìm cười rất khẽ. “Nhưng em đã cả nghĩ rồi. Chuyện không phải như thế.”

Thấy tôi không nói gì chị lại ngẩng mặt lên.

“Chị biết chuyện xảy ra trong nhóm Asanuma. Một con bé vì quá nhát gan đã kể cho Hani mọi thứ thế là Hani tìm đến chị để xin lời khuyên. Em ấy cũng đề cập đến việc Asanuma có rủ em và dường như em đã đồng ý nhảy vào.”

Tôi sẽ không nói “nhảy vào” là từ tốt nhất để diễn tả quyết định này, nhưng…

“Chỉ cần em có cơ hội được vẽ…”

“Thì em sẽ không quan tâm là ở đâu sao? Em nên quan tâm. Trời ạ!”

Tôi chỉ im lặng trước lời phủ quyết. Đặt tay phải lên bàn chị Kouchi rướn người về trước.

“Em có thực sự nghĩ là mình còn thời gian để chơi với những thứ vô nghĩa này không? Những gì Asanuma muốn là chiếm lấy quyền điều hành CLB – và em biết chứ không phải là không.”

Tôi đã muốn phản pháo rằng đó là cách Asanuma quan tâm tới Manga chân chính nhưng không thể. Tôi chưa từng đọc những gì Asanuma vẽ, thậm chí còn chẳng biết cậu ấy thích loại manga nào. Ồ, nghĩ lại tôi mới nhận ra là hai đứa còn chưa từng có một cuộc thảo luận nào về manga nữa kia. Dù vậy tôi vẫn thấy chút gì ấm ức.

“Tại sao em lại không có đủ? Hay là chị nghĩ là em nên làm thêm cái gì?”

“Đúng, đó là việc cải thiện khả năng sáng tác của em. Mải mê theo kế hoạch của Asanuma mà bỏ sức vào những thứ tầm phào chỉ làm tốn thời gian của em mà thôi.”

Tôi bị sốc, và không biết điều đó có hiện rõ trên mặt không mà chị Kouchi dường như hăng hơn nữa. “Chả có cái gì tốt đẹp nếu em cứ tiếp tục những thứ đó.”

“…”

“Cộng đồng Manga chỉ đang níu chân em lại.”

Dĩ nhiên tôi biết chuyện đang xảy ra chứ. Nhiều lần tôi đã tưởng tượng rằng CLB sẽ tràn ngập với bao nhiều là câu truyện thú vị nếu mọi người không cãi nhau… không, sẽ là nói dối nếu bảo là tôi không thôi nghĩ về nó từng giây, từng phút mỗi khi ở trong phòng sinh hoạt. Nhưng dù mọi chuyện đã không như mơ thì tôi chắc chắn chưa bao giờ nghĩ rằng họ đang “níu chân” mình theo bất kỳ cách hiểu nào.

“Điều đó… không đúng.”

Chị Kouchi nói lại ngay:

“Em vẫn muốn chơi trò bạn bè đấy à? Hay lo là nếu giờ mà bỏ thì người ta sẽ nghĩ em là kẻ quẳng gánh giữa đường? Vậy thì để chị thêm nào nhé: cũng như việc CLB chẳng làm được gì tốt đẹp cho em thì em cũng chẳng mang lại lợi lộc gì cho CLB cả. Có thể em không là toàn bộ lý do cho chuyện xảy ra đến hôm nay, nhưng một phần thì chắc chắn.”

Có lẽ chị muốn ám chỉ vụ tôi bị tạt nước bẩn hổi Lễ hội văn hóa là căn nguyên của mọi xung đột đây mà. Ý tôi là… ừ thì đúng là thế thật nhưng chỉ là tai nạn thôi. Làm sao tôi tránh được?

“Em không hiểu chị đang nói gì phải không? Vậy em có đồng ý là đội bóng rổ trường mình dở như hạch chứ?”

Chủ đề lập tức bị thay đổi khiến tối ngớ người một hồi lâu.

“Dạ… em có nghe người ta nói.”

“Điều đó không có gì bất ngờ. Cao trung Kamiyama là trường dành cho học sinh có mong muốn học lên cao nên khó có thể đòi hỏi thành tích ở các CLB thể thao được. Rồi, ta biết đội mình dở, vậy sẽ ra sao nếu một thiên tài ngàn-năm-có-một, loại mà sẽ đứng đẩu kể cả trong một đội bóng cao trung hạt giống đi ấy, gia nhập đội chúng ta?”

Cho tôi một giây xem xét, chị tiếp tục:

“Những thành viên còn lại sẽ được khơi nguồn cảm hứng mà luyện tập miệt mài hơn và cả đội sẽ mạnh lên nhỉ? Ừ đúng đấy, và cái kết quả màu hồng đó chỉ tồn tại trong truyện tranh mà thôi. Chín trong mười trường hợp họ sẽ nhận ra giới hạn của mình và xem người thiên tài kia như cái gai trong mắt.”

Tôi hiểu chị đang muốn so sánh với Cộng đồng Manga hiện tại.

“Nhưng…” Khó khăn lắm tôi mới có thể lên tiếng, “Em không phải là thiên tài ngàn-năm-có-một.”

“Đúng, chị đồng ý rằng gọi em như thế là phóng đại,” chị Kouchi gật đầu ngay, nhưng lập tức thêm vào: “Nhưng sự thực là em có một dấu vết nhỏ xíu tí teo của một thiên tài trong mình. Ít nhất chị có thể nói là em giỏi bằng chị.”

Tôi đã đọc một sáng tác của chị trước đây. Tựa đề là “Cái xác biết nói”. Đó là một manga hay, thực-sự-hay.

“Chị giỏi hơn em nhiều,” tôi nói.

“Và đó là vì chị lớn hơn em một tuổi. Nghe này, khiêm tốn là tốt nhưng đồng thời em phải tập nhìn chính mình dưới góc độ khách quan nữa.”

Chị lại đưa tách là lên môi mà phát ra một tiếng thổi nhẹ với đôi mắt nhìn xuống nước trà. Cái tách như khẽ run khi chị vẫn còn cầm mà nói rất khẽ: “Chị… muốn trở thành họa sĩ manga chuyên nghiệp. Bây giờ thì chị dở, nhưng thực sự chị muốn mình giỏi hơn.”

Nghe cái lời “chị dở” thốt lên từ chính chị Kouchi khiến mọi sự điềm tính của tôi như tan biến. Nhiều chuyện đã xảy ra giữa hai chị em nhưng điều đó không làm tôi bớt thích thú tác phẩm của chị. Chị có một óc hài hước rất tuyệt vời, tới nỗi tôi có thể cười trong những thời điểm khó khăn mỗi khi đọc xong và… thậm chí đọc lúc vui thì nó lại có thể khiến tôi buồn ấy chứ.

“Chị đã từng không dám rời Cộng đồng Manga,” chị lại nói tiếp, “Và giống như em, chị đã không thể tập trung vào việc vẽ manga khi xung quanh mình chỉ toàn là những lời cay độc. Chị không thể ngăn lại ý định muốn bám trụ tới cuối vì lý do gì thì có trời biết. Thế đấy, chị chỉ biết là mình không thể.”

Đoạn chị Kouchi nhìn thẳng vào tôi, như thể muốn cầu mong điều gì.

“Và chị đã hối hận. Hai trong ba năm của chị coi như bị phí hoài ở cái nơi đó.”

Trong bầu im lặng nối theo tôi nghĩ rằng chị cũng thầm nhấn mạnh việc tôi đã bỏ mất một năm.

Nắm tay lại thành quả đấm, chị tiếp tục:

“Chị cần phải được vẽ nhiều hơn. Đó là lý do chị rời CLB. Chị biết chị cũng có tài – dù dấu vết của nó có nhỏ bé gần như là không đi nữa thì chị vẫn muốn ôm lấy nó như một vật báu của mình.

Ôm tài năng mình như một vật báu…

Điều đó chẳng phải khó lắm sao chị ơi? Cái cảm giác sợ hãi khi quay lưng lại với bạn bè của mình mà đặt lòng tin vào thứ tài năng chưa được ai công nhận ấy? Đó là điều chị đã làm, và cũng là điều chị muốn em làm hay sao?

Đột nhiên giọng nói của chị Kouchi trở nên tươi vui kỳ lạ.

“Em cũng nên bỏ nó đi Ibara ạ.”

“Nhưng…”

“Rời Cộng đồng Manga, rồi hợp tác với chị.”

Tôi lại cứng đờ. Mình có nghe lộn không nhỉ? Chị lại tiếp tục:

“Em nhớ Cái xác bóng chiều phải không?”

Không thể nào tôi quên được. Đó là quyển truyện tôi mua từ thời còn là học sinh Sơ trung đi dự lễ hội văn hóa ở Cao trung Kamiyama, và cũng là thứ đánh dấu cho một bước ngoặt quan trọng. Việc nhận ra rằng một học sinh Cao trung có thể làm ra một tuyệt tác như vậy đã thay đổi tôi, khiến tôi ngay khi vào Cao trung đã đăng ký làm thành viên của Cộng đồng Manga mà không cần suy nghĩ. Nhưng dĩ nhiên giờ đây rõ là tôi nên xét lại vì ngay từ đầu tác giả của “Cái xác bóng chiều tà” có phải thành viên CLB đâu?

Có lẽ việc nhắc lại cái tựa này khiến chị có vẻ buồn đi đôi chút.

“Đó là một kiệt tác. Chị đã không thể đọc còn em thì đã bị mê mẩn phải không? Giờ tới lượt của chị… và của em.”

Một cơn ớn lạnh vừa chạy dọc sống lưng tôi.

Chị Kouchi giơ một ngón tay lên.

“Có hai điều em sẽ nhận được. Thứ nhất, không như cái kế hoạch trẻ con của Asanuma đây là thứ sẽ cho cả chị lẫn em những kinh nghiệm quý giá. Với những gì chị thấy thì phần lời thoại của em thường gặp khó khăn vì em cố gắng nói ra mọi thứ. Còn phần chị, nói sao nhỉ, manga của chị chưa có nhiều sức hấp dẫn với người ta lắm. Chị cũng có một vài thói quen xấu khi sáng tác. Hai chúng ta chắc chắn sẽ cải thiện được nếu làm việc cùng nhau.”

Rồi chị giơ nốt ngón thứ hai.

“Thêm nữa, cũng như Cái xác bóng chiều đã làm được, tác phẩm của chúng ta sẽ khơi cảm hứng cho những thế hệ học sinh sau này. Cộng đồng Manga dù đã hết thuốc chữa nhưng chúng ta sẽ là người nối tiếp truyền thống cho nó.”

Chị ấy nghiêm túc chứ?

“Chị định bán nó vào Lễ hội văn hóa à?”

Chị gật đầu. “Đúng thế.”

Làm vậy là vi phạm nội quy trường, nhưng có một vấn đề còn đáng lo hơn thế.

“Chị không sợ bị mọi người trong CLB sẽ ghét sao?”

Dù sao thì tác giả của “Cái xác bóng chiều” cũng không từ Cộng đồng Manga mà ra, còn tôi thì nếu vừa ở vừa bán manga trong lễ hội thì có khác nào thách thức công khai với cả địch lẫn ta đâu?

Chị ấy vẫn không nao núng.

“Đó là lý do chị bảo em rời CLB đấy. Khi còn bị ràng buộc vào cái trò chơi bạn bè thì em sẽ không thể vẽ những thứ mình muốn. Chắc chắn họ sẽ giận, nhưng rồi sao? Họ có làm chúng ta mất giọt máu nào không? Cơ mà… em có nghĩ họ làm thật không? Ờ thì quá lắm ăn một đấm cũng không đến nỗi tệ.”

“Em chỉ muốn được vẽ manga mà thôi.”

“Và đó là điểm-không-thể-quay-lại của em. Chỉ bằng việc thích vẽ manga thì em đã là ‘sinh vật lạ’ và khiến hàng tá người thấy chướng mắt rồi. Em không thích phải không? Vậy thì chọn một trong hai: hoặc là từ bỏ việc vẽ, hoặc là làm họ phải câm mồm.”

Không phải tôi không hiểu, chỉ là hơi khó để nghe nó được nói thẳng đuột ra vậy.

“Và nói thật,” chị tiếp tục, “Không một ai ở nơi đó từng đọc bất cứ sáng tác nào của em dù em đã giành trọn tâm huyết vào cả. Đừng lo, sẽ ổn mà. Mình chỉ cần nhờ ai đó bán dùm thì chẳng ai biết đâu.”

Ồ, có khi vậy mà lại hay đấy. Còn bốn tháng là đến Lề hội văn hóa, và nếu hợp tác với chị Kouchi thì nội dung và nét vẽ còn khác phong cách thông thường của tôi nữa nên… chắc là chả ai nhận ra đâu.

Tôi phải hớp miếng trà để mình bớt hứng khởi.

“Nhưng vậy cũng có nghĩa là em phải nói với Asanuma rằng mình sẽ không giúp… em không biết liệu…”

“Liệu rằng mình có thể phải không? Chị ghét phải nói sau lưng người khác. Con bé đó đúng là có tuyển người nhưng đồng thời cũng nói với họ là em sẽ lo tất.”

Thật vậy sao?

“Em đang bị lợi dụng mà thôi. Biết được vậy rồi thì Asanuma có đáng để em phải trung thành không?”

Thực ra tôi cũng lờ mờ với nghi hoặc này rồi, nhưng nghĩ về cuộc nói chuyện trưa nay làm tôi không thể quay lưng với cậu ấy.

“Em đã bảo Asanuma chờ, vậy nên em tuyệt đối không thể rời CLB lúc này và bỏ ngang được ạ.”

Chị Kouchi thở dài một cái.

“Cái đó thì chị bó tay, cơ mà vào lễ hội năm trước hình như em có vẽ bốn trang phải không? Để giành cho tập san nhưng rốt cuộc đã không xuất bản vì tranh cãi giữa chúng ta ấy.”

Đúng thế, tôi đã vẽ vài câu truyện bốn khung để giới thiệu Cộng đồng Nghiên cứu Manga dù không ai bắt làm vậy. Kêt quả là nó bị xếp vào ngăn bàn cũng với sự hủy bỏ kế hoạch xuất bản tập san.

“Cứ đưa cho nó cái đó,” chị nói, “Dù em có nói cái này là làm hồi năm trước thì con bé đó cũng chẳng có tư cách gì phàn nàn cả.”

Ừm… mà tôi bất ngờ là chị ấy nhớ đấy. Mình còn quên cơ mà. Nhưng trước khi đưa ra câu trả lời vẫn còn một điều tôi cần hỏi. Có lẽ chị Kouchi muốn giúp tôi thoát khỏi thế khó ở Cộng đồng Manga, hoặc là chỉ muốn được sáng tác manga với người đàn em có-tí-ti-tài-năng. Nói chung là cái nào thì tôi cũng vui cả, nhưng tới tận lúc này tôi vẫn chưa tìm thấy cái lý do đó – lý do để “tha thứ” cho chị. Đổ đầy tách trà vầ để đó cho nguội, tôi hít một hơi sâu rồi nhìn chị.

“Dạ, em hiểu. Một câu hỏi nữa thôi chị.”

“Hửm?”

“Tại sao chị phải trộm quyển tập của em?”

Nhớ lại nỗi thống khổ mà con người này đã bắt tôi gánh chịu suốt buổi chiều hôm qua khiến tôi vẫn chưa thể tin tưởng chứ đừng nói là cộng tác.

Chị Kouchi nhìn xuống.

“Khi biết em có ý định giúp đỡ Asanuma làm manga thì chị đã lo lắng. Nếu em đồng ý thì coi như chị mất cơ hội để thuyết phục rồi phải không? Em là một đứa cứng đầu cơ mà. Chắc chắn em sẽ từ chối việc rời CLB và có khi còn nhìn lời đề nghị hợp tác của chị bằng nửa con mắt. Đó là lý do chị đã nhờ Hani tìm cách để bản nháp của em không thể tới tay Asanuma vào chiều thứ sáu.”

Thở dài một cái, chị tiếp tục:

“Em đừng giận Hani nhé. Em ấy chỉ làm vì chị nhờ như vậy. Nếu phải lấy cớ thì chị đã không biết cho tới khi tầm trong tay cuốn tập đó. Nếu ban đầu được giải thích rõ ràng hơn thì em ấy có lẽ đã không làm chuyện tồi tệ như vậy, nhưng em biết đấy… chị cũng không thể nói toàn bộ sự thật được.”

Tôi chắc rằng chị ấy đã không nói với Hani về ý định muốn hợp tác với tôi để xuất bản một manga vào Lễ hội văn hóa. Càng ít người biết càng tốt, đó là điều dễ hiểu… nhưng vẫn có cái chưa được toàn vẹn.

“Tại sao lại là hôm nay vậy ạ?”

Xét về việc chị bằng cách nào đó đã biết giao ước của tôi và Asanuma thì… ít ra nếu không xét đến cảm xúc cá nhân thì đó là một giải pháp hợp lý. Nhưng vậy thì tại sao phải tới sát ngày hôm qua mới lấy để hôm nay mới trả?

“Ủa, ờ thì…”

Chị Kouchi chớp mắt lia lịa mà nhìn tôi như thể vừa được nghe một câu hỏi tu từ, rồi lẩm bẩm “Cũng phải thôi” mà lấy thứ trong cái túi giấy để trên chiếc ghế trống cạnh mình ra.

Ngay lập tức tôi lại được phen sững người. Trong tay chị là ấn bản tháng sáu của nguyệt san manga La Shin, với trang bìa được vẽ bởi Yukata Niiro.

“Vì hôm nay là ngày phát hành mà.”

Đúng thế. Mười tám tháng năm là ngày số mới nhất của La Shin chính thức lên kệ, nhưng thứ tôi quan tâm hơn là kết quả giải thưởng Tân Thế Giới được công bố trong đó kia. Thừa thẵng xông lên từ kết quả đợt trước lần này tôi cũng nộp một bài và đã rất háo hức chờ đến ngày hôm nay…

Tại sao nó lại ở đây nhỉ?

Một cái cười châm chọc xuất hiện trên môi – có lẽ là thích thú khi thấy tôi như vậy – trước khi chị giải thích:

“Chúc mừng về giải khuyến khích đợt trước nhé, Kazuru Ihara.

Tôi đột ngột thốt lên một tiếng kỳ cục khiến chị Kouchi nói với giọng làm bộ như hết chịu nổi:

“Hỡi trời. Đã bao lần em nộp bản thảo dưới cái tên này rồi hả? Cả cuộc thi ở Oosu nữa phải không? Chị cũng đọc La Shin dĩ nhiên là phải nhận ra chứ.”

Nhưng chỉ thế mà nhận ra được sao?

Chỉ vào bìa quyển tạp chí, chị tiếp tục:

“Khi thấy tên em trên số tháng ba chị đã tự hỏi mình rằng từ đó đến giờ mình đã làm cái quái gì vậy. Chị biết việc rời đi CLB đã khiến xung đột trở nên trầm trọng hơn mà. Ờ, vậy nghĩa là chị quan trọng đấy, nhưng làm gì còn thời gian cho việc đó? Khoảnh khắc nhận ra cũng là lúc chị nộp đơn xin rời CLB.”

Đặng chị đặt tay lên quyển tạp chí.

“Và cũng từ lời nhận xét ‘Chúc may mắn vào lần tới’ của em mà chị đồ rằng em đã gửi bản thảo trong một thời gian dài. Thế là chị nghĩ thế này, nói thật nhé, dù biết là khó nhưng… lỡ như số tháng này thông báo em đoạt giải quán quân thì chả còn lý do gì để em hợp tác với chị cả. Dĩ nhiên là em nên cố gắng lên chuyên nghiệp sơm chừng nào tốt chừng nấy nên đây cũng là lý do cốt yếu mà chị chờ tới hôm nay mới bàn với em. Nếu đồng ý hợp tác rồi sau đó mới biết mình đoạt giải thì chị cá là em sẽ chỉ vì trách nhiệm mà dính lại với chị.”

Mắt tôi bấy giờ chỉ dính vào bìa quyển tạp chí trước mặt còn tai thì chữ lọt chữ không. Mìm cười, chị đẩy quyển tạp chí về phía tôi.

“Trông em hiếu kỳ lắm rồi kìa. Muốn xem kết quả không?”

“Dạ có ạ.”

“Chị thì xem rồi.”

“R-rồi sao chị?”

Chị chỉ cười đáp trả. Tôi cầm quyển La Shin lên mà giở ra trang cuối để xem mục lục. Không thèm giấu giếm nỗi háo hức tôi mở đến trang có công bố người chiến thắng.

Quán quân giải Tân Thế Giới lần thứ mười lăm: “Kỳ truyện bên bờ biển lạnh”, tác giả Enma Haru.

Tôi tìm tên mình ở giải nhì… không có.

Tôi tìm dưới mục giải khuyến khích, và…

… đặt cuốn tạp chí xuống mà không nói nên lời.

“Khó lắm, chị hiểu mà.”

Đó là lời an ủi chỉ có thể đến từ một người từng trải qua điều tương tự.

“Vậy… em sẽ giúp đỡ chị chứ?”

“… Vâng.”

“Tốt quá.” Chị Ayako Kouchi gật đầu.

“Ibara, chúng ta sẽ tạo ra một huyền thoại! Tác phẩm để đời của chúng ta sẽ lưu dấu trong truyền thống của Cao trung Kamiyama, và sau đó…”

“Chúng ta sẽ giỏi hơn, phải không chị?”

Nụ cười đang hiện trên gương mặt có lẽ là thứ đẹp đẽ nhất mà chị từng cho tôi thấy.

Tôi đã rời Cộng đồng Manga như thế đấy.


Một kỳ nghỉ dài[sửa | sửa mã nguồn]

1.[sửa | sửa mã nguồn]

Từ giây đầu tiên sau khi thức dậy tôi đã thấy có gì không bình thường.

Mở mắt, tôi quay lại dòm cái đồng hồ cạnh gối. Màn hình điện tử hiện bảy giờ và bên cạnh là ký hiệu chỉ ngày Chủ nhật.

Chẳng có một chút cái cảm giác ong ong trong đầu thường thấy của một buổi sáng dậy sớm cả. Thực ra thì có chút ít nhưng không khiến tôi chìm lại vào giấc ngủ. Nhẹ nhàng trở mình sấp xuống, tôi thực hiện động tác có lẽ giống với hít đất để nâng cơ thể dậy.

Cơ mà điều kỳ lạ nhất thì phải khi tôi thả chân xuống sàn mới xảy ra. Hướng mắt về ánh nắng lách qua khe hai bức rèm, tôi lẩm bẩm những lời mà chính mình còn không dám tin.

“Mình thấy khỏe quá.”

Cả thể chất lẫn tinh thần, chả thằng nào đi nghỉ mát cả.

Cái thân thể đã quá quen với mệt mỏi bệnh hoạn mà lại cảm thấy khỏe, à không, diễn đạt vậy chưa rõ, phải là tràn-đầy-năng-lượng-một-cách-hoàn-hảo. Mớ năng lượng thừa mứa này đang dâng trào tới mức một ý nghĩ tự xúi rằng hãy làm cái gì đó thật vớ vẩn để bớt lại được phép băng qua tâm trí tôi. Đây đúng nghĩa là dịp ngàn năm có một.

Bước vào bếp tôi mở tủ lạnh. Có thịt xông khói, nấm maitake và rau chân vịt nên tôi lấy tất ra mà thái thành miếng lớn. Tôi cũng bỏ một lát bánh mỳ vào máy nướng và đánh mấy trái trứng trong một cái tô nhỏ, vừa đánh vừa vô tư thả vào nào là phô mai, sữa, và sau một chút là bột cà ri. Hai chiếc chảo được đun nóng với một giành cho thịt còn một là cho hỗn hợp trứng. Chậc… không đủ chỗ đun nước rồi. Cà phê phải chờ vậy.

Mang bữa sáng vào phòng khách rồi cứ thế tọng bánh mỳ vào miệng, tôi nghe tiếng bước chân xuống cầu thang. Ba mẹ tôi đều đang công tác xa nên chắc chắn đó là bà chị yêu dấu. Âm thanh tiếp tục hướng vào trong bếp…

“Trời đất, có bữa sáng này!”

Luôn tràn đầy sức sống vào buổi sáng nhỉ.

“Nhóc làm đó hả Houtarou?"

“Ai biết được? Cũng có thể ăn trộm nó làm hộ.”

“Vẫn còn nóng, vậy thì hắn vẫn còn gần đây… và đang ngồi ăn phải không ông tướng?"

Chả thèm đáp lại tôi lấy một miếng thịt xông khói đặt lên bánh mỳ. Không lâu sau chị lại mở lời.

“Chị ké miếng được hông?"

Miệng tôi đang nhồi đầy đồ ăn nên tôi chỉ gật đầu. Dù gì tôi cũng đã làm phần cho hai người.

“Ố ồ, không tệ chút nào!” chị nói. Về cái khoản bất lịch sự thì bà chị này nhì chắc chả có ai nhất.

“Bỏ ra đĩa mà ăn.”

“Cái vị này… Nhóc có bỏ cái gì trong đây à?"

Chắc là mới cắn miếng trứng đây. Hũ bột cà ri vẫn còn để đó nên tôi tin tưởng vào tài nghệ suy đoán của bà chị yêu dấu mà cứ tiếp tục ăn. Thừa biết….

“Ồ, cái này sao?" chị hỏi. “Không quá kỳ công, nhưng chắc chắn là vượt tầm nhóc. Hôm nay có vụ gì vậy Houtarou? Trọng đại lắm à?"

Sắc bén như mọi khi. Hớp một ngụm sữa, tôi đáp: “Em cảm thấy đầy sức sống.”

Không khác gì tưởng tượng, thứ tôi nhận được là một cái buột miệng gọn lỏn: “Gì cơ?"

Dậy xong ăn sáng xong, giờ thì đi dọn dẹp giặt giũ. Tôi cũng tranh thủ chà bồn tắm và làm mỳ udon cho bữa trưa. Lúc này đang là một giờ. Ngày dài thật.

Trở lại phòng, tôi thả người xuống giường mà suy nghĩ. Giờ làm gì ta? Nghía qua khe hẹp giữa hai bức màn ra ngoài cửa sổ, tôi đang thấy một bầu trời “hoàn hảo”. Những tia nắng đầu tiên sau một chuồi ngày chỉ có mưa và mưa.

“Thôi ra ngoài vậy…”

Tôi bận vào một chiếc quần có túi sâu để nhét vừa một quyển sách nhỏ, một chiếc áo thun polo mà nhìn ra ngoài lần nữa. Chẳng biết từ lúc nào tôi lại nở ra một nụ cười.

“Chẳng thể phí một ngày đẹp tuyệt thế này nhỉ?"

Hãy nghĩ về việc mà tôi, Oreki Houtarou, chứ không phải ai khác lại không cưỡng được mong muốn đi ra ngoài đường mà xem… Nếu Satoshi mà nghe những lời tôi vừa nói với chính mình lúc nãy có lẽ hắn sẽ đạp xe như bay tới đây để làm một cuộc kiểm tra về chứng sốt-đến-loạn-tâm-thần. Tôi cũng cầm ví lên, nhưng nghĩ một hồi chỉ rút ra tờ một ngàn yên và nhét vào túi quần bên kia.

Không lâu sau tôi đã đứng ngoài đường mà chưa kịp có dự tính gì trong đầu. Hay là chỉ đi lòng vòng thôi? Nhưng thực lòng tôi vẫn muốn tìm ra một điểm đến nào đó...

“Đi đâu bây giờ đây?"

Tôi nghĩ về một tiệm sách hay đến nhưng cũng sớm nhận ra chi tiêu của mình tháng này khá giới hạn, với cả cuốn truyện chữ mang theo có lẽ cũng đủ để tôi đọc cả ngày. Nhiệm vụ nhanh chóng trở thành kiếm một nơi yên tĩnh để đọc. Một khung cảnh bên bờ sông hiện lên trong tâm trí… nhưng mùa này thì chỗ đó nhiều sâu bọ phải biết. Có chút người hay mấy thứ cũng chả sao nhưng cũng chừng mực thôi.

Có một ngôi đền thờ thần Hachiman [12] gần đây, khă tĩnh lặng và có mấy khối đá đủ thoải mái để ngồi. Nghe hay đấy nhỉ? Cảm thấy đó là một chọn lựa tốt tôi bắt đầu bước chân về hướng đó… nhưng lại một lần nữa có cái gì ngăn lại. Ngôi đền ấy quá gần, còn tôi thì đang quá hứng hôm nay. Nếu chỉ khi đến đó e rằng chưa đủ để tiêu bớt mớ năng lượng đang chực trào này mất.

“Vậy thì cái đền đó đi.”

Xoay gót chân lại, tôi hướng về một địa điểm khá xa – đền Arekusu. Cơ mà không phải trong đầu tôi đã có sẵn một lô các ngôi đền đâu, chỉ là độ quá xa của đền Arekusu tự dưng lại rất vừa vặn với độ quá gần của đền thần Hachiman mà thôi.

Hành trình bắt đầu. Tôi cảm thấy chút lạnh vi chỉ mặc mỗi cái áo thun nhưng nhanh chóng được nắng làm ấm mà cảm thấy đầy thư thái. Cố tình tránh con đường tới trường quen thuộc tôi lại muốn sải bước trên những cung đường hiu hắt lạ lẫm. Nơi đây cứ như là một hang gió tự nhiên ấy. Dù hai bên đường đều có rào chắn tôi vẫn thi thoảng bị một luồng gió mạnh thổi ngược về sau. Trên một trong các hàng rào có con mèo vằn hổ đang ngồi, trưng cái mặt như thể đang bực dọc chuyện gì đó.

“Ê,” tôi lên tiếng rồi giơ tay chào. Có lẽ giật mình con mèo liền chạy đi mất. Tội lỗi quá, tội lỗi quá.

Tôi dần tiến đến một cây cầu. Trận mưa hôm qua đã khiến nước sông dâng lên trông thấy. Dừng lại một quãng, tôi hướng tầm mắt xuống dòng nước đục ngầu đang vang lên những tiếng ùng ục kia…

“Mưa đầu hạ,

Lấp đầy vội vã,

Dòng Mogami…” [13]

Ờ thì đây không phải dòng Mogami và trận mưa hôm qua cũng chẳng phải là đầu mùa. Nếu hiểu biết hơn có lẽ tôi đã chọn một bài haiku hợp cảnh hơn. Satoshi chắc là làm được đấy… cơ mà văn học có khi lại thuộc sở trường của Chitanda nhiều hơn.

Tôi đi ngang qua một hàng bán takoyaki. Mùi hương ngọt ngào phảng phất trong không khí vẫn có một sức mời gọi lạ lẫm với cái bao tử đã nốc trọn một bữa sáng đẫy đà. Tôi dắt túi một ngàn yên – đủ sức để chi cho một phần… càng khiến sự mời gọi như chờ chực trào dâng. Khoan! Đợi đã. Bình tĩnh nào. Mua ở đây thì ngồi ăn ở đâu? Thế là nhờ sự sáng suốt này tôi đã nghiến răng mà đi tiếp về phía trước thật nhanh.

Đi được mười phút tôi nhận ra số lượng con đường mình không biết đã tăng lên đáng kể. Gần như cả đời chỉ loanh quanh trong thành phố vậy mà chỉ mười phút tôi đã đưa mình tới những nơi lạ lùng như vậy… xem ra đã “tiết kiệm” hơi quá rồi nhỉ. Tự nhận xét mình không tới nỗi mù đường tôi bèn tiếp tục đi trên cung đường xa lạ với một sự tự tin nhất định. Đi chỗ này rồi tới chỗ kia, và rồi nếu quẹo ở đây thì…

Một khoảng đất trống xuất hiện. Nếu phải tự đánh giá bản thân thì đó là hai chữ tuyệt vời – tôi đã đứng ngay trước cổng vào đền Arekusu.

“Giờ thì…” tôi lẩm bẩm mà nhìn lên cái cổng torii [14] lớn. Xem ra tôi đã quên điều này: chánh điện nằm trên đồi, nghĩa là để thực sự vào đền tôi sẽ phải leo hết một dãy bậc thang dài đăng đẳng. Dù hôm nay có hứng khởi cỡ nào đi nữa, tới mức muốn rời khỏi nhà đi lòng vòng thì tôi cũng không chắc là mình muốn… Do dự một hồi, và rồi…

“Mà thôi, cũng chả chết ai.”

Tôi quyết định tiếp tục cuộc du ngoạn.

Lên rồi lên, từng bậc lại từng bậc được ghi vào đầu. Không lâu sau tôi đã thấy hai bên đường là hàng tuyết tùng thẳng tắp. Nhiệt độ như nhẹ nhàng giảm theo sự tăng lên của độ cao. Sau khi đi được ba mươi bậc tôi đã quên mất mình đang đếm đến đâu. Hai tám, hai chín, ba mươi… và “bum”… Dù chưa giành nhiều thời gian suy nghĩ về công việc trong tương lai nhưng có lẽ những thứ liên quan tới đo đếm sẽ chừa tôi ra.

Nhịp thở cũng ngày càng tăng. Kiếm chỗ đọc sách thôi mà cũng lao lực dữ, hay là ngồi trên bậc thang mà đọc ta? Không không… đã hơn nửa đường rồi. Chỉ một chút tí ti nữa thôi! Tôi lại rướn người về trước mà leo. Thế rồi sau chắc cũng phải trăm bậc – ước lượng thế thôi – tôi cũng lên tới đỉnh mà hít thở một hơi dài. Mắt tôi bấy giờ đang hướng về cái cấu trúc bao gồm một cái bể nhỏ có nước chảy xuống được dùng để hành lễ. Thực sự rất muốn làm một ngụm đầy nhưng lương tâm mách bảo rằng dường như thứ nước đó không dùng để uống. Tôi bèn nhìn quanh quất hòng tìm một máy bán nước tự động… nhưng dĩ nhiên, đây là đền thờ thì làm sao mà có? Tôi tiếp tục đảo mắt qua lại cho tới khi tầm nhìn khóa vào một bóng dáng vừa rồi khỏi phòng hành chính của đền. Cô gái mặc áo thun và quần ngắn như thể coi đây là nhà mình. Cô còn mang một cặp kính tròng nhỏ và có mái tóc dài…

“A!”

Đó là Kaho Juumonji. Vậy là lời nhận xét của tôi có phần đúng đấy chứ - nhỏ quả thực đang “ở nhà”. Có lẽ cũng nhận ra sự hiện diện của tôi, nhỏ từ từ bước đến.

“Hân hạnh được đón tiếp.”

Đặt úp tay lên trước ngực, nhỏ cúi đầu chào đầy lịch sự. Lẽ ra tôi đã hoảng hồn khi được đối xử một cách trịnh trọng thế này, nhưng may sao kinh nghiệm xương máu hồi đầu năm vẫn còn đó.

“Cám ơn nhé.” tôi đáp. Khi ngẩng lên trông nhỏ có vẻ không vui lắm với phản ứng điềm tĩnh của tôi, nhưng nhanh chóng cười mà đáp:

“Cậu đến thăm đền à?”

“Không hẳn, ừ thì… tiện thể cũng là vậy.”

“Cậu dị thật.”

“Ban đầu chỉ tính đi vòng vòng thôi.”

Tôi chỉ nói vậy vì khó mà kiếm ra lời hay ý đẹp nào để mô tả với một người vốn ăn ngủ ở đây. Juumonji quay mặt về phía phòng hành chính, nơi nhỏ vừa bước ra.

“Eru đang trong đó.”

“Hả?”

“Eru đang trong đó.”

Nghe cứ như một phát minh của Gennai Hiraga ấy nhỉ [15]. Eru đang trong đó…

Cái gì?  “Eru” đang ở đây á?

“Cái… cơ mà tại sao?”

Nhỏ trả lời: “Thì ghé chơi thôi chứ làm sao? Thích thì cậu có thể vô, tớ sẽ làm chút trà.”

“Không, không sao. Chỉ là…”

“Không hẳn là cậu không liên quan tới chủ đề của tụi này đâu nhé.”

Hả? Tôi thì liên quan gì?

“Tớ chả ép đâu,” nhỏ tiếp tục, “nhưng cậu biết đấy – Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ.

“Đó là lời đức Phật à?”

“Đó là lời vượt ngoài biên giới của tôn giáo.”

“Tớ không biết…”

“Giời ạ… Mà thôi cũng không sao, tốt nhất là cậu cứ phải tận mắt thấy. Đi nào.”

Chưa kịp định thần tôi đã bị dắt một cách đầy cam chịu vào phòng hành chính.

Một khoảng không gian trong phòng hành chính được phân ra làm một phòng nhỏ cỡ sáu chiếu [16]. Cửa vào cũng là loại cửa trượt truyền thống như mọi nơi trong đền, nhưng bước vào tôi mới thấy đó là một cái phòng ngủ với đồ dùng cá nhân. Một cái tủ quần áo, một đồng hồ, một kệ đầy tạp chí với tiểu thuyết, một cái ấm trà nhỏ và ở rung tâm là một cái bàn thấp. Có lẽ nhỏ còn nhiều đồ dùng hơn ở nhà nhưng nhỏ quyết định chỉ mang một ít tới đây để đủ sống.

À, và dĩ nhiên tôi chưa liệt kê tới…

“Ơ… ớ? Oreki-san… Sao cậu lại…”

Chitanda đang ở đây và đỏ mặt. Đặng nhỏ nhìn khắp phòng, luồn tay vào mái tóc và rồi, dường như đã nhớ ra chuyện quan trọng gì đó, mà dang tay ra gom hết những gì đang có bên bàn về phía mình. Juumonji lên tiếng, đúng hơn là vừa nói vừa cười.

“Có cần phải giấu không hả trời?”

“A-ừm… phải rồi. Cậu nói đúng…”

Nhỏ cúi mặt xuống, làm động tác như hít một hơi sâu để bình tĩnh trước khi ngồi thẳng người lên.

“Chào cậu Oreki-san, không ngờ lại gặp cậu ở đây.”

“Ừ, tớ cũng bất ngờ.”

“Nhưng cậu biết tớ ở đây phải không?”

Nhỏ đang nói sảng hay gì?

“Hở, thật à?” Juumonji quay sang tôi mà hỏi. Tôi lắc đầu.

“Tớ có nói mà phải không?” Chitanda trần tình, “là đã hứa với với Kaho-san sẽ tới chơi vào Chủ nhật ấy.”

“Khi nào và với ai thế?”

“Thì là với Mayaka-san vào giờ tan học thứ sáu ấy.”

Thế thì thế quái nào nhỏ lại nghĩ rằng Ibara sẽ to nhỏ với tôi hả trời? Ngay khi định hỏi tiếp thì nhỏ đã bồi thêm:

“Lúc đó cậu ngồi ngay cạnh cậu ấy mà?”

Trí nhớ tôi về ngày đó hơi lờ mờ… nhưng có lẽ đúng là tôi đã tới phòng họp CLB, và cũng thực sự ngồi cạnh Ibara… nhưng mà…

“Tớ không có nghe.”

Lời bào chữa này có vẻ không hiệu quả lắm, khiến tôi tự dưng gánh thêm nỗi lo là nhỏ tưởng rằng có thằng dở hơi đã nghe trộm mà cố tình tới đây và đúng vào thời điểm này. Thế nên tôi bèn khẳng định lần nữa, chắc nịch hơn.

“Tớ tuyệt đối không nghe trộm à nha.”

Chitanda gật đầu. “Tớ hiểu mà. Lúc đó có lẽ Oreki-san chỉ chú tâm vào quyển sách thôi.”

Juumoji “hưm” một cái trông không được thuyết phục lắm. Nhỏ này nghĩ cái gì trong đầu vậy nhỉ? Nhưng rồi nhỏ cũng lấy đệm ra cho tôi ngồi và rót trà xanh vào một cái cốc. Trong lúc đó Chitanda trải ra trở lại những thứ hồi nãy đã hớt hải gom vào.

“Tớ tới đây để xem mấy thứ này.”

Những tấm hình – cụ thể hơn là hình chụp từ lễ lội Búp bê sống hồi tháng tư, tại một địa điểm gần nhà Chitanda.

“Thật tình là xấu hổ lắm,” đoạn nhỏ lại lấy tay che đi.

Trong lễ hội Búp bê sống Chitanda cũng được hóa trang có chụp hình và đã cho tôi xem một mớ, nhưng dĩ nhiên là khác mớ hình đang ở trên bàn lúc này.

Tôi cũng đang ngượng chín mặt vì một tấm hình đây. Đằng sau một Chitanda búp-bê với đôi mắt hơi nhìn xuống mà tỏa ra một khí chất thuần chân là một tên cầm ô đầu đội nón cao truyền thống… và đang trưng ra cái mặt phải nói là đần-chưa-từng-thấy! Miệng thì mở to còn mắt thì lờ đờ… Không thể nhìn thêm một giây tôi quay mặt đi.

“Nhiếp ảnh gia thật là tàn nhẫn.”

“A, tấm này ấy hả?” Chitanda cầm lên và đưa lại gần.

“Đúng là không phải tấm đẹp nhất ở đây nhỉ.”

Juumonji đặt cốc trà xuống bàn mà nói: “Lúc nó cậu đang ngáp à. Thề có thần linh biết chọn thời điểm dữ.”

“Thề có quỷ ma thì có.”

Lúc ấy tôi không hề ngáp. Nếu phải đoán thì… bức ảnh này đã chụp lại một khoảnh khắc đầy kinh ngạc mà những tấm của Satoshi không hề sở hữu. Có lẽ nó thực sự chỉ là một khoảnh khắc mà thôi… ít nhất đó là điều tôi muốn tin.

“Xin lỗi vì kéo cậu vào đây nhé, vì tớ không thể nhịn cười khi nhìn cái tấm này. Đương sự đã tới đây mà lại không mời vào xem chung thì giống như cười sau lưng quá phải không. Tớ sẽ thấy tội lỗi lắm.”

Tôi hiểu, và nói vậy thôi chứ tôi không nghĩ nhỏ sẽ cười nhạo khi xem những tấm hình như vậy. Quả là một cô nàng thẳng thắn.

“Cơ mà, cái tấm hình này của Eru cũng ngồ ngộ lắm nè.”

“Kaho-san kỳ quá à!”

Hai cô nàng tiếp tục cười nói về nội dung của hết tầm hình này tới tầm hình khác trong khi tôi im lặng ngồi ở giữa, cứ một chốc lại nhẹ nhàng hớp một ngụm trà. Dù hiểu lý do Juumonji muốn mình ở đây nhưng rõ ràng là tôi đang ở nhầm chỗ. Nói cho gọn là giờ tôi chỉ muốn ra ngoài càng nhanh càng tốt bất chấp cái cổ họng khô ran đang rất biết ơn những hớp trà. Chờ đợi cuộc chuyện trò đi tới một khoảng lặng để lấy cớ rút lui mà cứ như thiên thu… tới khi trà hết tôi thực sự nghĩ rằng đã đến lúc phải đi, nhưng cùng lúc này Juumonji nhìn đồng hồ mà thốt lên.

“Ôi chà, trễ đến thế này rồi sao? Eru cũng nên về đi thôi.”

Chitanda cười. “Ừm tớ biết. Mà cậu cũng xong việc rồi chứ?”

“Ấy chết,” Juumoji ngây như phỗng, “Tiêu rồi. Tớ tính đi làm ấy chứ, nhưng chả hiểu sao gặp Oreki-kun lại quên luôn.”

Chả hiểu chủ đề là cái gì nhưng xem ra tôi đã phải tội. Nhướn mày lên một chút, Juumonji liền cúi đầu nói.

“Tớ thành thật xin lỗi. Giờ thì không biết có làm kịp ngay không nữa…”

“Chuyện gì vậy?” Tôi hỏi.

Chitanda liền đáp: “Hôm nay tớ tính cho Kaho-san xem hình rồi phụ cậu ấy một việc.”

Tiếp lời, Juumonji giải thích nốt: “Tớ cũng phải đi sắm mớ đồ cho nhà. Lúc gặp cậu là chuẩn bị đi rồi không hiểu sao lại quên béng luôn.”

“Không hiểu sao” thật à. Sao tôi chẳng thấy chút chân thành nào trên mặt nhỏ thế này?

“Nếu vậy thì mình tớ lo là được,” Chitanda trấn an. “Kaho-san cứ đi đi nhé.”                                    

“Cậu chắc chứ?”

“Chắc mà. Đây đâu phải lần đầu tớ làm công việc này.”

“Tạ ơn cậu.” Nói xong Juumonji nhắm mắt lại mà chắp tay trước Chitanda. “Nam mô.”[17]

“Đó là lời đức Phật phải không?” Tôi tự dưng buộc miệng còn Juumonji thì mở mắt ra.

“Đó là lời vượt ngoài biên giới của tôn giáo. À mà cậu thì sao hả Oreki-kun? Tớ không phiền nếu cậu muốn ở lại.”

“À không, tớ xin phép. Cám ơn về cốc trà nhé.”

“Vậy à? À thôi không có chi.”

Chuẩn bị đứng lên thì tôi có một ý nghĩ.

“Cơ mà cậu phải phụ việc gì thế?”

Chitanda giơ hai tay mà làm động tác như khiêu vũ.

“Quét dọn.”

Có lẽ nhỏ muốn bắt chước hành động quét chổi. Juumonji cũng thêm vào:

“Ở đây có một căn đền nhỏ giành để thờ thần Inari [18]… mà thật ra hôm nay cũng không nhất thiết cần phải dọn.”

“Không sao đâu, là tớ muốn tới phụ mà.”

Vậy là do thười gian gấp gáp nên một người sẽ phải làm việc của hai người… Giá mà tôi đã không hỏi, nhưng vì đã lỡ biết chuyện thì rõ ràng lựa chọn của tôi chỉ có một.

“Tớ sẽ giúp.”

Có lẽ chỉ là do bất ngờ ban đầu mà Chitanda liền bảo là không cần phải phụ, vì sau đó nhỏ không từ chối đề nghị của tôi thêm một lần nào nữa.


2.[sửa | sửa mã nguồn]

Đền thờ thần Inari tọa lạc khiêm tốn ở bên cạnh chánh điện, tận cùng của một con đường dài và hẹp. Nhắc mới nhớ, chắc chắn là có một cái biển lất phất của một góc tiền sảnh để chữ “Thiên Hồ Điện” [19]. Chả hiểu tại sao nó lại không được đặt gần cái lối vào.

“Kỳ lạ. Không có hướng dẫn gì thì ai mà biết để tới đó nhỉ?”

“Tớ không rõ nữa… nhưng tớ cũng không nghĩ căn đền này được xây chỉ để thu hút khách.”

Tôi cầm hai cây chổi, mỗi cây tựa vào một bên vai. Chitanda thì mang một cái xô chứa đồ hốt rác, giẻ khô, vài cái bao rác và găng tay vệ sinh.

“Tụi mình đi nào.”

Con đường hẹp ban đầu thoai thoải như một chân đồi nhỏ rồi nhanh chóng chuyển thành bậc thang. Tôi có cảm giác nếu mình đi trước sẽ có lúc vô tình chọc cán chổi vào Chitanda nên thôi thì theo sau cho lành. Bước trên những bậc thang tôi ngoảnh đầu lại, rồi không nghĩ ngợi gì mà chỉ nhìn khung cảnh mặt đất bên dưới dần bị che lấp bởi quá nhiều cây xanh.

Phải nói là… quá đỗi yên bình.

Đó chính xác là một bầu không khí yên bình nhưng không yên lặng. Nhận thức của tôi vẫn có tiếng lá bị gió thổi xào xạc, tiếng chim hót, tiếng bước chân của tôi và của Chitanda… thứ mới đây chỉ là một cuộc đi dạo bình thường dường như đã chuyển thành một hiện trạng kỳ lạ.

“Xin lỗi nhé Oreki-san. Cậu đang cảm thấy chuyện này kỳ lạ lắm phải không?”

Nghe lời thì thầm của nhỏ khiến tôi giật bắn mình.

“À, ừ, nhưng hôm nay tớ cũng rảnh.”

Không nói gì thêm chúng tôi cứ thế lên cao dần. Càng ngày các bậc thang cũng dốc hơn khiến tôi chẳng thể tập trung vào thứ gì khác ngoài chính đôi chân của mình. Ngay khi mình sắp sửa quên luôn cuộc trò chuyện ban nãy thì Chitanda lại lên tiếng.

“Lạ thật đấy.”

Về mặt tiêu hao thể lực thì đây xứng đáng gọi là một cuộc hành trình dù thực tế chỉ dài vỏn vẹn tầm năm phút. Về cuối con đường dần trở nên bằng phẳng cho tới khi tôi thấy một chiếc cổng torii đỏ rực cùng ngôi đền nhỏ xíu ngay phía sau. Trước đền có một bệ thờ bằng đá và trên đó đặt sẵn một chai rượu sake. Tôi đã đồ rằng sẽ chẳng mấy ai biết mà tới đây trước khi nhìn thấy vỏ lon bia và đầu lọc thuốc lá vương vãi khắp nơi.

Tôi đưa một cây chổi cho Chitanda.

“Vậy giờ mình dọn từ chỗ nào?”

“Trụ trì sẽ tự tay chăm sóc đền, việc của mình là quét lá xung quanh và mấy thứ nữa thôi.”

“Còn mấy cái giẻ lau này?”

“Là để lau sạch vết phân chim trên tượng thần cáo và tổng torii. Nhưng mà…” Chitanda khựng lại, đi một vòng số tám qua hai bức tượng mà cười với tôi. “Trông vẫn còn sạch lắm. Vậy là chỉ cần lau chai rượu thôi.”

Tại sao lại có chai rượu ở đây nhỉ? Nói như nhỏ thì chắc không phải là ai để quên rồi…

“Rồi, vậy thì bắt đầu thôi.”

Nghe vậy Chitanda cười khúc khích mà nói: “Trước đó mình phải hành lễ đã.”

À nhỉ.

Tựa hai cây chổi cạnh tượng thần Cáo, chúng tôi đứng cạnh nhau trước đền thần Inari mà chắp tay lại. Nam mô.

Nếu tôi nhớ không lầm thì thần Inari phù hộ cho bán buôn lợi lộc. Tôi cùng nhớ là đã đọc ở đâu, hoặc là nghe Satoshi kể, rằng vốn Inari là thần về nghề nông… nhưng dù có là thế nào thì cũng chẳng liên quan tới tôi lúc này. Vậy thì hành lễ sao ta… đành vậy. Xin thần thứ lỗi vì con chuẩn bị mạo phạm tới đền của ngài, nhưng sẽ rất nhanh thôi ạ.

“Được rồi đấy.” Chitanda nói.

Xem ra nhỏ sẽ phụ trách phần cọ rửa. Dù sao thì cũng tốn công vác hai cây chổi nặng trịch lên tới tận đây nên có lễ tôi sẽ đảm nhiệm phần quét lá. Ôi cứ như là đến nhầm mùa ấy, lá rớt trên mặt đất như một thảm úa vàng. Quét hết mớ này xem ra cũng bở hơi đây, nghĩ vậy tôi bắt đầu động tay và quyết định chọn khu vực quanh cổng torii làm nơi bắt đầu.

Âm thanh như nhạc điệu của tiếng những cọng tre cọ xuống nền đất với tôi thật vui tai đến kỳ lạ.

Cơ mà lại nhắc mới nhớ, sáng nay tôi cũng dọn nhà, và sau một khoảng thời gian tận hưởng ánh nắng ấm áp tôi lại tiếp tục… dọn dẹp cho “nhà” của người khác à?

Hứm, hưm, hừm… Tôi hòa theo nhịp điệu của tiếng quét chổi.

“Hôm nay cậu có chuyện vui nhỉ Oreki-san.”

Chỉ lúc này tôi mới nhận ra mình “nhỏ tiếng” cỡ nào. Có lẽ các bạn cũng đoán được là tôi đang xấu hổ gần chết. Mặt nóng bừng bừng. Trong tình thế dù không có gì cứu vãn này ít nhất tôi cũng phải níu kéo lại thanh danh một chút…

“Không hẳn,” là tất cả những gì tôi có thể đáp.

Chitanda chỉ bụm miệng lại, vai khẽ run lên. Sau khi lau sạch chai rượu nhỏ đeo găng tay mà thu nhặt những vỏ lon rỗng bỏ vào xô rồi cầm chổi quét chung với tôi. Chẳng có kế hoạch nào định trước cả nhưng rồi tôi sẽ lo hết mạn phải còn nhỏ thì mạn trái. Sau lần muối mặt vừa rồi tôi lại tiếp tục quét mà chú ý tối đa tới âm lượng khi những tiếng “hứm hừm” mình ngân lên. Tiếng quét chổi của hai chúng tôi lúc thì lạc điệu, lúc thì hòa thanh.

“Tớ có hơi ngạc nhiên,” Chitanda đột nhiên lên tiếng. Tôi chỉ nghe mà không nhìn nhỏ.

“Về điều gì?”

“Về việc cậu muốn giúp.”

“Đôi khi người ta chỉ đơn giản là muốn quét dọn.”

“Vậy sao?”

Tôi nghĩ trong chốc lát.

“Ờ, trừ những dịp ví dụ như sắp có kỳ thi hay gì ấy.”

Nhỏ đáp lại đầy phấn khởi. “Tớ cũng thế, cứ trước kỳ thi là lại ngại này ngại nọ.”

Đằng xa có tiếng chim hót.

“… Oreki-san, chẳng phải cậu luôn nói rằng nếu một thứ gì đó có thể tự giải quyết được thì sẽ chẳng động tay đến phải không? Đó là lý do tớ hơi bất ngờ. Tớ đã nghĩ là khi đó cậu sẽ về ngay.”

Ờ thì dù sao việc quét lá cũng không nhọc nhằn như tôi nghĩ. Ngay từ đầu tôi đã là người ngoài và chắc chắn nhỏ cũng sẽ ổn nếu khi đó tôi chỉ chào rồi đi ngay. Thực tế thì chín trên mười trường hợp tôi sẽ làm thế. Không dừng tay, tôi đáp:

“Hôm nay tớ không được ổn.”

“Sao cơ? Cậu thấy khó chịu ở đâu à?”

“Không phải. Chỉ là, nói sao nhỉ, tớ cảm thấy mình không giống thường ngày. Như kiểu hôm nay tớ lại muốn đi đâu đó, và nếu không ở đây thì có lẽ tớ cũng chỉ tiếp tục đi ngắm cảnh mà thôi. Thế nên nếu có thể làm được gì có ích thì sao lại không?”

Nhìn Chitanda, tôi thấy nhỏ cứ nghiêng đầu hết qua trái lại qua phải như không hiểu điều gì, nhưng cuối cùng vẫn nói:

“Ưm, cám ơn cậu nhé.”

Chả hiểu nhỏ cám ơn vì cái gì.

Quay trở lại những động tác quen thuộc tôi bắt đầu cảm thấy những giọt mồ hôi. Gió đã lặng giữa các hàng cây. Những trận mưa kéo dài khiến nền đất ẩm và bết chạt vào nhau khiến việc quét lá trở nên khó khăn. Tôi phải dồn nhiều lực hơn khiến những cọng chổi rít lên những tiếng như gào thét.

“Oreki-san.”

“Hửm?”

“Tớ hỏi cậu cái này được không?”

“Ừm.”

Hỏi gì nhỉ? Lúc này hình như vẫn còn sớm để bắt đầu làm tập san cho Lễ hội văn hóa mà. Cuộc đối thoại đi đến một khoảng lặng khi Chitanda trông có vẻ do dự về điều gì đó. Nhỏ chỉ cứ thế mà quét lá, ngay lúc hơn là đang đứng yên một chỗ mà quét khoảnh đất đã trơ trụi từ lâu. Cảm thấy mất kiên nhẫn, tôi chuẩn bị hỏi là nhỏ muốn nói gì thì Chitanda đã lại lên tiếng:

“Ưm… Cậu không cần trả lời nếu không muốn, nhưng mà…”

“Nếu là về điểm thì cho tớ xin. Kiểu gì cậu cũng cao hơn.”

“Không, không phải chuyện đó.”

Một khoảng thời gian nữa được nhỏ giành ra chỉ để hít một hơi sâu.

“Tại sao cậu lại nói cái lời cậu luôn nói ấy?”

“Cái lời tớ luôn nói?”

“Cậu biết đấy… ‘Việc không làm thì bỏ, đã làm thì phải làm cho nhanh’ ấy.”

Ồ.

Tôi ngừng lại. Âm thanh của hai cây chổi chà xuống nền đất cũng tan theo.

Có lẽ hiểu lầm phản ứng của tôi Chitanda nhanh chóng xua tay đầy hối lỗi.

“Ưm, không nói cũng không sao mà. Tớ bất lịch sự quá rồi. Nếu cậu cảm thấy khó chịu thì đừng nói gì cả. Cơ mà… nãy tớ có nói sai chữ nào không nhỉ?”

Tôi bất giác nở một nụ cười.

“Tớ hiểu cậu muốn nói gì.”

Rồi thở dài.

“Chỉ là đang chưa biết nói gì mà thôi. Đó không phải một sự kiện vui vẻ hay phức tạp gì cho lắm… nhưng thực sự đã khiến tớ không còn muốn cố sức vào mọi việc nữa.”

“Thật sao?”

Tôi lần mò lại ký ức trong khi hướng mắt vào khoảng trời không chút gợn mây lọt giữa nền lục thẫm. Không nhờ cũng có lúc mình sẽ trả lời một câu hỏi như vậy… hôm nay quả thực là kỳ lạ.

“Xem nào…” tôi lẩm bẩm rồi quay trở lại với việc quét lá.


3.[sửa | sửa mã nguồn]

Rồi, tớ sẽ không nói đây chính xác là lý do cũng như là một cái gì đáng để nghe. Nhưng nếu cậu muốn thì tớ sẽ kể.

Đó là khi tớ học lớp sáu. Ở trường tớ thì mỗi thành viên trong lớp sẽ đảm nhận một công việc nhất định. Ồ, trường cậu cũng vậy à? Thế thì chắc không cần giải thích thêm. Dĩ nhiên là tớ cũng được giao việc. Ban đầu thì cho chọn thích gì làm nấy, nhưng rồi hiển nhiên đã có tranh chấp và rốt cuộc mọi thứ được quyết định bằng cách biểu quyết. Không nhớ rõ quá trình nhưng kết quả là tớ được giao nhiệm vụ trực ban. Nó như kiểu mấy người làm việc ở những công ty điện thoại cũ ấy. Hở? Cậu không hiểu à? Ưm, như kiểu nhân viên tổng đài ấy. Mà thôi, mai cậu có thể hỏi Satoshi để biết thêm chi tiết, cơ bản nó không phải một công việc cụ thể. Ngoài ra thì cũng có những việc liên quan tới lau dọn, trang trí lớp hay đại loại vậy. Cũng bởi cơ chế chia lớp ra làm nhiều nhiệm vụ khác nhau nên phải có một chức vụ chuyên làm những việc mà chưa giao cho ai. Một trong những việc cụ thể tớ nhận được… tốt nhất đừng có cười đó, là tưới vườn hoa.

Thế đấy, tớ thì lại không hiểu biết lắm về các loài hoa. Nói về tên thì khi đó quá lắm nhớ được mỗi hoa păng-xê là cùng. Và rồi công việc tưởng như chỉ là tưới nước mỗi ngày hóa ra lại phiền phức hơn tớ nghĩ. Nhà cậu làm nông thì chắc thừa hiểu nhỉ. Tớ còn phải kiểm tra tình trạng và độ ẩm của đất trước khi quyết định có cần tưới thêm hay không. Có ba lớp được phân coi sóc vườn hoa mỗi tuần nên cơ bản là cứ cách hai tuần tớ sẽ phải kiểm tra đất mỗi ngày trong tuần tiếp theo. Rất nhiều thứ phải ghi nhớ và đó chỉ là một trong số những công việc. Làm duy nhất một thứ mỗi ngày rất khác với phải luân phiên thay đổi giờ giấc để phù hợp với công việc hiện tại.

Thực ra tớ không làm một mình. Đó là một nhóm hai người và người kia tên là… không biết nói tên ra thì có sao không. Thôi thì cứ gọi là Tanaka đi. Hửm? Đó là một bạn nữ. Ai cũng được phân thành một nhóm nam-nữ cả.

Tanaka không nổi bật trong lớp, tới mức thậm chí cả tớ - người thậm chí chả quan tâm tới những chuyện ngồi lê đôi mách - cũng nhận thấy. Cậu ấy rất khép kín, và dù cậu có cố bắt chuyện thì cuộc hội thoại ấy cũng chỉ kéo dài sau vài lời là cùng. Phải nói là một tính cách khá u ám… Tóc à? Tớ nhớ là tóc dài nhưng không để dài như cậu. Ủa mà sao thế? Bộ có gì liên quan tới tóc à?

Mà thôi, tóm lại là Tanaka và tớ được giao nhiệm vụ tưới cây. Không có gì xảy ra trong mấy tuần đầu cả. Cứ tới đúng tuần của lớp mình là tớ và Tanaka lại đi xuống vườn hoa sau trường vào giờ tan học để cùng nhau kiểm tra tình trạng đất. Một cuộc tranh cãi đã xảy ra khi tớ một mực muốn tưới còn Tanaka thì ngăn lại mà bảo rằng chưa cần thiết. Cậu ấy đã nói rằng tưới nước quá nhiều sẽ hại cho cây hơn là lợi. Tanaka chưa bao giờ là tuýp người quyết đoán về vấn đề gì, thế nên khi lần đầu nghe thấy một lời phản đối – dù bằng những lời rất nhẹ nhàng – thốt ra từ cậu ấy tớ đã khá sốc. Cũng từ đó tớ nhận ra rằng chăm sóc hoa chẳng phải chỉ là vấn đề tưới nước hay không mà việc giữ cho chúng không héo mới là trách nhiệm cuối cùng.

Dù vậy cuộc bàn luận về cách chăm sóc hoa cũng chỉ đến thế. Một tuần. Sau đó do cả hai đều hiểu mình cần làm gì nên chẳng cần thiết phải đi chung, thế là mới bàn nhau đi xen kẽ. Tớ nghĩ đây là cách hay nhất… nhưng rồi cũng chẳng được mấy bữa. Thế sự đã thay đổi từ cái này Tanaka nhờ tớ giúp.

“Nhà mình đang xây lại nên phải ở tạm nơi xa trường lắm, đi xe buýt mất cả tiếng cơ mà lại không có nhiều chuyến nữa. Vì vậy tan học cái là mình phải về liền,” cậu ấy nói.

Tớ không nhớ là mình cảm thấy phiền lòng gì, nhưng nghe vậy thầy chủ nhiệm cũng tham gia mà nói:

“Tanaka cũng khó xử lắm đấy em biết không? Phải hiểu cho bạn. Nhà em cũng gần nên về trễ một chút đâu có sao nhỉ?"

Đúng vậy. Nhà tớ khá gần trưởng tiểu học… lên sơ trung thì xa quá trời nhưng thôi, không lạc đề. Thầy chủ nhiệm là một người trẻ tuổi và nếu tớ nhớ không lầm chỉ có ba năm kinh nghiệm. Thầy có tính rất ganh đua, luôn muốn tìm cách để cải thiện lớp về nhiều mặt…. ví dụ như:

“Oreki, em dán cho thầy mấy miếng băng keo xuống sàn để các bạn dễ xếp bàn ngay ngắn hơn nhé.”

Hay…

“Oreki, thầy muốn làm một cái bảng tin lớn hơn cho lớp, em cắt giấy dùm thầy nhé.”

Và…

“Oreki, thầy thấy cái đèn này hơi mờ, em đứng lên cẩn thận rồi gỡ xuống nhé.”

Cậu bất ngờ phải không? Cũng phải. Lúc nào thầy cũng có cái để sai tớ làm. Giờ nghĩ lại thì có lẽ đó giống như chủ định của thầy hơn. Gần như luôn luôn sau khi tớ tưới nước cho vườn hoa và trở về phòng học gần-như-trống-không thì thầy sẽ chờ sẵn ở đó mà nhờ tớ làm không cái này thì cái kia. Dĩ nhiên là tớ nghe lời và không thắc mắc gì cả. Năm lớp sáu đã bắt đầu rồi tiếp diễn như vậy đấy. Có lẽ thầy cũng tùy người mà sai. Thầy biết về tình cảnh của Tanaka và nhờ tôi làm hộ phần việc của cậu ấy, tớ đồng ý. Tuần sau đó là tuần trực nên tớ đã làm mọi việc, một mình, và mọi ngày trong tuần. Ban đầu Tanaka còn nói “Xin lỗi cậu, và cảm ơn nhé,” nhưng nghe riết thì cũng nhàm. Một thời gian sau cậu ấy tới giờ là chỉ xách cặp đi về mà chẳng nói gì nhưng điều đó chẳng làm tớ nghĩ điều gì không hay. Tớ biết cậu ấy cũng chẳng vui vẻ gì. Đi bộ đến trạm xe buýt thành phố cũng tốn sức rồi mà lại phải ngồi trên xa cả tiếng đi rồi về…

Đó là phần đầu. Nãy giờ có chỗ nào cậu khó hiểu không? Tớ không quen kể chuyện kiểu này cho lắm.

Tốt, vậy tiếp tục nhé.

Một ngày nọ, chuyện đó xảy ra.

Tanaka và tớ đi xuống vườn hoa vào giờ nghỉ trưa. Tụi này được thầy chủ nhiệm nhờ gieo thêm vài hạt giống ấy mà. Tớ cũng quên đó là hạt gì rồi, lúc đó là ngay trước mùa hạ thì chắc là hoa bìm bìm… Không tớ nói thật đấy, không nhớ mà. Rồi thầy còn bảo tụi này cắm xuống mấy cái biển tên loài hoa nữa. Ừ, đó là ý tưởng mới của thầy, cái “kế hoạch cải thiện môi trường học tập” của thầy xem ra không chỉ giới hạn trong lớp học. Nhiều biển tên lắm, hai người cầm đã còn khó mà đằng này phải mang thêm hạt giống nên tớ bèn gói hết lại bằng mấy tờ giấy rồi bỏ vào túi. Tanaka thì khác, cậu ấy vẫn cố gắng vừa cầm biển tên vừa giữ mớ hạt giống trong hai bàn tay và, như cậu có thể tưởng tượng, không nổi.

“Bỏ vào túi ấy,” tôi thản nhiên đề xuất vì tôi làm được chẳng lẽ Tanaka lại không? Nhưng cậu ấy lắc đầu mà nói:

“Tớ không có túi.”

Chỉ từ lúc đó tớ mới có ấn tượng rằng đồng phục tiểu học của con gái không có túi… dĩ nhiên, đó tới giờ có được thử đâu mà biết?

Tụi này không trò chuyện gì cả. Dù là làm chung nhưng Tanaka dường như chẳng động tay vào thứ gì nên hiển nhiên không có gì mà tranh cãi. Gieo hạt thì ổn, nhưng tới vụ cắm biển tên thì tụi này mới nhận ra một chuyện: cả Tanaka và tớ đều chẳng biết hoa nào là hoa nào. Chẳng được ai chỉ dạy cả. Thế rồi đến hết giờ nghỉ trưa mà tụi này vẫn không thể hoàn thành.

Tới giờ tan học ngày hôm đó…

Tuần này là tuần trực của lớp nên tớ sẽ một mình xuống vườn hoa. Sau khi kiểm tra đất và gieo nốt mớ hạt còn lại tớ quyết định chưa cần phải tưới nước. Như vậy lẽ ra tớ đã có thể về sớm nhưng lại quyết định ở lại trường thêm một chút… khác chắc chắn là về lớp nói chuyện vài người bạn. Đó là lúc Tanaka bước vào, trông như sắp khóc tới nơi.

“Cặp tớ mất rồi,” cậu ấy mếu máo.

Làm sao là một thứ to như cái cặp lại có thể mất được? Tớ nghĩ thế, nhưng có nói ra thì cũng không thể khiến nó nhiệm màu mà hiện ra nên cả hai rà soát lại phòng học lần nữa, và khi chắc chắn là không có tớ mới đề xuất đi nhờ thầy chủ nhiệm. Cũng là lớp sáu rồi, đứa nào cũng đang tuổi lớn nên ghét việc tâm sự với giáo viên cũng là chuyện thường, nhưng lạ là ở chỗ Tanaka nhanh chóng đồng tình. Ba người chia nhau ra mà tìm khắp những nơi có thể nghĩ tới. Là ai á? Dĩ nhiên là Tanaka, thầy và tớ. Còn mấy người bạn tớ nói chuyện lúc nãy á? Chả nhớ nữa, mà chắc chắn là không đi kiếm chung. Có lẽ thấy biến nên về nhà cả rồi.

Bấy giờ trông thầy cực kỳ nghiêm trọng. Lúc đó thì tớ không nhận ra, nhưng sau này nghĩ lại gì… có lẽ thầy đang lo về chuyện đó. Ý tớ là gì à? Chắc cậu phải biết chứ. Không biết à? Ừm thì là “bắt nạt” ấy. Có thể thầy đang nghĩ rằng ai đó vì muốn bắt nạt Tanaka mà giấu cặp của cậu ấy đi. Tớ khi đó chỉ nắm bắt tình hình mà cố gắng tìm kiếm càng nhanh càng tốt.

Nè, đừng nhìn tớ thế chứ. Rốt cuộc thì chả có bắt nạt gì cả. Chiếc cặp vốn bị bỏ quên ở cạnh giàn cọc… Cậu không biết đó là cái gì à? Nó hay có ở mấy cái trung tâm giải trí hay bãi đất rộng để con nít chơi leo trèo ấy. Trường tớ cũng có một cái, và Tanaka đã để tạm ở đó mà đi chơi. Chuyện tiếp theo có lẽ là vài đứa nhóc lớp một hay hai đi ngang qua, tưởng là đồ để quên mà mang tới phòng thầy tổng phụ trách. Chỉ thế thôi. Khổ cái là thầy tổng phụ trách sau khi nhận lại có việc phải đi ra ngoài nên trong thời gian đó không ai biết chiếc cặp là đồ bị bỏ quên nên chẳng có thông báo nào. Mọi chuyện chỉ là xui xẻo mà thôi.

Thực lòng mà nói tớ nhẹ cả người. Dù trò chuyện không nhiều nhưng chẳng hiểu sao khi ấy tớ lại cực kỳ muốn giúp Tanaka tìm lại chiếc cặp.

Khi thấy thầy tổng phụ trách mang cặp ra tớ đã rất mừng.

Thầy không quên thuyết giáo cho Tanaka một trận. “Em tuyệt đối không được để thứ quan trọng như cặp sách lung tung như thế!” hay đại loại vậy. Tớ hồi đó cũng cứ quăng cặp đấy cả tá lần để đi chơi chứ đâu, có trách là trách tụi nhóc chả biết gì mà lại mang đi ấy chứ… dĩ nhiên là chỉ nghĩ thôi, không có nói. Nghe thầy mắng Tanaka chỉ đứng đó, bồn chồn và lo lắng. Tớ có thể hiểu cậu ấy đang lo điều gì. Nghĩ mà xem, Tanaka chưa thể được kiểm tra xem đồ đạc trong cặp có nguyên vẹn hay không. Chắc chắn cậu ấy đang cầu cho bài thuyết giáo kết thúc càng nhanh càng tốt và thời điểm đó phải vỗ tay cho thầy chủ nhiệm về sự tinh ý. Thầy chờ tới khi thầy tổng phụ trách ngưng lại một phát là bồi vào luôn:

“Thầy tổng phụ trách hoàn toàn đúng, nhưng mà em cũng nên kiểm tra xem đồ đạc trong cặp có bị làm sao không.”

Khi được đưa cho chiếc cặp, mọi sự im lặng của Tanaka được giải phóng. Cậu ấy tức tốc mở khóa cặp mà rút ra một cái hộp bút. Tớ nhớ là khá nhỏ và chẳng có hoa văn gì đặc biệt. Nhìn thấy cây bút chì kim nằm trong đó Tanaka liền thở phào nhẹ nhõm.

“Tạ ơn trời…”

Chỉ lướt sơ qua nhưng tớ cũng kịp nhìn thấy có hình một nhân vật nhỏ xíu trên cây bút chì . Là nhân vậy nào nhỉ... tớ không nhớ rõ, dù sau này cậu ấy có nói rằng cây bút là phần thưởng một cuộc thi trên tạp chí. Trông chả đắt đỏ gì nhưng cậu biết ấy, mỗi người có một mỹ quan riêng. Trông Tanaka khi đó mừng như thế nào mới biết cây bút thực sự là báu vật với cậu ấy.

Tôi hỏi: “Có bị mất gì không?”

Nắm chặt cây bút trong tay cậu ấy đáp: “Chỉ cần nó còn thôi là được. Những thứ còn lại về nhà tớ kiểm tra sau.”

“Cậu chắc chứ?”

“Chắc mà. Cám ơn cậu.”

Mang bút chì kim đến trường tiểu học chả có gì là sai cả, dĩ nhiên. Nhưng sự từ đây mới bắt đầu. Không may cho Tanaka là thầy tổng phụ trách cũng nhận ra điều đó.

“Em tuyệt đối không được mang những thứ quý giá như vậy lên trường!” thầy quát đầy tức giận. Mà cậu nghĩ xem, sách vở có khi còn mắc hơn nhiều so với một cây bút chì kim phải không? Thầy nói vậy thì chẳng lẽ chỉ được mang tới trường những thứ có mất cũng chả sao? Nhưng tớ cũng chẳng thể nói ra được.

Ngày hôm sau, trường ban hành một nội quy cấm tất cả dụng cụ học tập có hình nhân vật trên đó. Hoàn toàn bất ngờ. Sách vở bút tẩy, thậm chí đồ kê tay… mọi thứ có hình nhân vật đều liên lụy. Khỏi phải nói lũ học sinh khi đó làm loạn cả lên, và chỉ có tớ và Tanaka biết tại sao sự lại ra thế này.

Đó, hết chuyện.

Tớ cũng khá là sốc trước sự chuyển biến này. Không lâu sau là một khoảnh khắc mà lần đầu tiên tớ nói câu “Việc không làm thì bỏ.”


4.[sửa | sửa mã nguồn]

“Hở?”

Chitanda đơ người. Một chút bối rối cũng không. Nhỏ cứ thế mà đứng trời chồng như thể vừa tua lại câu truyện để nghe lần nữa. Việc quét lá coi như xong, giờ chỉ là hốt hết vào ki rồi nhét vào mấy cái bao rác mà thôi. Nói thế chứ công đoạn cuối cùng này trông cũng mệt phết. Cái ki vẫn còn nằm trong xô. Tôi điịnh bước đến lấy thì nhỏ lại lên tiếng:

“Ớ?”

“Chả có gì ‘ớ’ ở đây cả.”

“Tớ vừa được nghe hết câu truyện phải không?”

“Hy vọng thế.”

“Đoạn kết chẳng phải hơi kỳ sao?”

Ừ, đúng là kỳ mà.

“Oreki-san, cậu đã giúp Tanaka-san tìm cặp đúng không? Chiếc cặp đã được tìm ra và cây bút chì quý giá của cậu ấy vẫn còn… rồi sau đó trường cậu cấm tất cả đồ dùng học tập có hình nhân vật… phải không?”

Đúng thế. Tôi cầm cái ki lên ngay lúc nghe một âm thanh như hai tay vỗ vào nhau.

“A, tớ hiểu rồi!’

“Thế à?”

“Cậu có nhiều đồ có hình nhân vật lắm phải không Oreki-san? Thế nên cậu bị sốc khi lệnh cấm được ban hành… nhưng mà… thế gì liên quan gì tới ‘Việc không làm gì bỏ’ nhỉ?”

Rồi nhỏ lại nghiêng đầu qua trái qua phải, vừa nghiêng vừa quét vừa tập trung suy nghĩ, và rồi khẽ tiếp tục:

“Chẳng lẽ… vì những thứ đó bị cấm nên cậu cảm thấy hối hận vì đã giúp Tanaka-san? Cậu thực sự nghĩ vậy sao?”

Không tệ. Thường thì mỗi khi tôi cố gắng vào việc gì là y như rằng nó sẽ mang lại một mớ rắc rối. Có thể nhỏ nhìn ra được điều đó mà dùng để suy đoán… nhưng không may.

“Sai rồi.”

“Nhưng mà…”

“Đừng dừng tay chứ.”

“À-à nhỉ.”

Chitanda cơ bản đã xong phần mạn của mình. Lá được chồng thành từng đống lớn và vì chỉ có một cái ki nên tôi xí phần sử dụng trước. Vừa hốt tôi vừa nói:

“Lúc nào cậu cũng nhảy tới phần kết luận trước nên kỳ này tớ mới bắt chước theo.”

“Kỳ quá à! Vậy là cậu thực sự bỏ qua phần quan trọng của câu truyện rồi sao Oreki-san!”

“Ờ.’

Ôi, nghe như chim hót bên tai.

Quả thật hôm nay tôi không bình thường chút nào. Chắc chắn từ đầu đến cuối là cách hay nhất để kể câu truyện này nhưng… chả hiểu sao tôi lại không thích thế. Nhìn thấy một Chitanda đang bực bội lại khiến tôi từ nay cứ muốn lâu lâu lại làm thế một lần mà không thấy bản thân tội lỗi cho lắm. Chỉ là giết thời gian thôi mà. Nhờ vậy việc quét dọn trông ngắn ngủi hẳn lên.

“Xem nào…” Chitanda đặt một ngón tay lên môi mà lại đăm chiêu suy nghĩ. Im lặng lúc này thì hơi tàn nhẫn quá, tôi bèn giúp nhỏ luôn.

“Vụ trường cấm đồ dùng học tập có hình nhân vật là có thật nhưng nó chả liên quan gì tới câu truyện đâu.”

Nhỏ liền nhìn tôi, mắt nở to. “Vậy là… cậu trêu tớ sao?”

“Gần như vậy.”

“O-Oreki-san!”

Nhồi mớ lá vào bao tôi nhận ra một đống thì trông to vậy chứ khi nhét vào thì nhỏ đến thảm hại, đó là chưa kể một mớ đất cũng bị hốt chung nữa.

“Đừng giận. Tớ hồi tiểu học ngay lập tức nhận ra điều kỳ lạ ở đây thì cậu cũng không mất nhiều thời gian đâu.”

“Sao mà được…” nhỏ nói. “Cậu khác tớ chứ Oreki-san. Không hiểu sao nữa, nhưng chỉ là tớ không giỏi suy luận như kiểu của cậu.”

Vậy là nhỏ cũng biết thế à…

Không định chọc nhỏ thêm nữa, vả lại có lẽ tôi cũng không kể tốt cho lắm.

“Được rồi, đầu tiên tớ có giải thích kỹ về công việc của tớ và Tanaka phải không?”

“Đúng vậy.”

Chitanda nghiêng người tới trước mà gật đầu. Vẻ mặt trông cực kỳ nghiêm túc khiến tôi có cảm giác mình vừa làm chuyện gì thật tệ với nhỏ.

“Nhưng không lâu sau Tanaka không thể ở lại trường sau giờ học được nữa nên tớ phải một mình làm việc trong cả tuần mỗi khi tới lượt.”

“Đúng vậy.” Và như muốn nhấn mạnh rằng mình đang nghe chăm chú, nhỏ thêm vào: “Vì nhà đang xây lại nên cậu ấy phải sống tạm ở một nơi khá xa đây. Đi xe buýt mất một tiếng.”

“Đó là điểm tớ muốn nói đấy.”

Chitanda có một trí nhớ đáng ngưỡng mộ, nhưng vì đây là điểm quan trọng nên tôi cũng không quên được.

“Tớ tin rằng mình có nói về việc chuyến xe tốn một tiếng đồng hồ và từ đâu.”

“Đúng thế. Tốn một tiếng tính từ trạm và bằng xe buýt.”

“Tốt. Cụ thể xe buýt đó là…”

“Xe buýt thành phố.”

“Vậy thì làm sao cậu ấy lên được đúng không?”

Xem ra Chitanda đã hiểu. Nhỏ liền lấy tay bụm miệng lại nhưng không thể che dấu sự bất ngờ lóe lên từ khuôn mặt. Lần này tinh đấy chứ.

“Ồ, ra là vậy. Tanaka-san sẽ không thể về nhà vì đồng phục cậu ấy không có túi!”

“Đúng vậy.”

“Để đi xe buýt thành phố cần có tiền hoặc vé. Nếu một học sinh tiểu học không thể nhét những thứ ấy vào đâu trên người thì cách duy nhất là vào cặp.”

Tôi gật gù tán thưởng.

“Vậy đấy. Đó chính là điều kỳ lạ mà tớ lúc đó đã nhận ra. Ban đầu tớ cứ ngỡ là cả thầy và trò phải gấp gáp đi tìm cái cặp để Tanaka có thể kịp xe buýt. Tại sao cậu ấy lại vẫn chơi đùa trong trường sau giờ học? Tớ chỉ nghĩ rằng đó là cách giết thời gian khi chờ xe đến nên đã dốc sức tìm cho cậu ấy. Thế mà khi nhận lại chiếc cặp thì điều đầu tiên và duy nhất Tanaka làm là tìm xem cây bút chì kim có hình nhân vật của mình có còn hay không. Khi hỏi là ‘có chắc chứ’ tớ đã đinh ninh rằng cậu ấy sẽ nhớ ra còn cái gì quan trọng khác cần phải kiểm tra, nhưng câu trả lời thì chỉ có một.”

“Vậy nghĩa là sao?”

Đến đây rồi mà nhỏ vẫn chưa nghĩ ra à?

Mà thôi, không trách được. Cả thằng tôi lớp sáu còn thấy khó để mà tin.

“Kết luận duy nhất tớ có thể rút ra là hôm đó Tanaka không đi xe buýt.”

“Làm sao mà…”

Không nói nên lời, Chitanda chỉ tròn mắt.

“Tớ không nghĩ sự đã vốn vậy từ đầu. Lúc mới nhờ tớ làm dùm thì hẳn là cậu ấy phải đi xe thật, nhưng chí ít là tới ngày hôm đó thì chuyện đã khác. Đời nào là một cây bút chì kim lại quan trọng tới mức không màng tới chuyến xe vừa ít vừa xa xôi để về nhà nào? Lý do chỉ có thể là Tanaka không cần phải đi xe buýt nữa.”

“Vậy là nhà cậu ấy đã được xây xong nhỉ? Thế sao lại…”

“Chẳng phải quá rõ ràng rồi ư?”

Tôi thở dài.

“Vì cậu ấy muốn đẩy mọi công việc cho tớ.”

 

Chitanda lên tiếng khi tới lượt mình dùng ki hốt lá.

“Vậy đó là chuyện đã xảy ra. Vì cậu ghét sự dối trá đó nên mới nói ‘Việc không làm thì bỏ’.”

Không hẳn là vậy… Không, đúng hơn là không bao giờ như thế. Xem ra cách tôi diễn dịch có vấn đề thật.

Chuyện xảy ra sau đó thực sự chẳng đẹp đẽ gì. Tôi biết rõ đó không phải là thứ mà bạ ai cũng kể được nhưng Chitanda đã lỡ đi quá xa trong suy đoán của nhỏ rồi. Liệu tôi có thể im alwjng mà để cho phần kết này bị hiểu lầm như thế không?

“Không,” tôi đáp. “Hôm đó, ngay khi nhận ra Tanaka không có tiền hay vé đi xe buýt phản ứng đầu tiên của tớ là lập tức nhìn thầy chủ nhiệm. Ngay từ đầu chính thầy là người muốn tớ một mình làm hết việc vì nhà Tanaka đang sửa đúng chứ? Thầy hẳn sẽ nhận ra ở đây có cái gì bất thường, và nếu vậy chẳng lý gì thầy lại không quở trách cậu ấy một chút đúng không? Nhưng thầy đã không làm vậy.”

Chitanda nhìn tôi đầy lo lắng.

“Cũng có thể là thầy không nhận ra chứ?”

Thế thì đã mừng.

“Không, khi đó thầy có một biểu cảm rất hoảng hốt. Cậu mà ở đó thì hẳn là sẽ nhìn thấy chữ ‘Chết, lộ rồi!’ như viết rõ trên mặt thầy vậy. Phản ứng đó là đủ để tớ hiểu là việc xây nhà của Tanaka đã hoàn thành.”

“…”

“Vậy tại sao thầy không nói với tớ? Tại sao mọi thứ không thể trở lại như ngày đầu tiên khi hai đứa còn cùng làm? Cũng có thể khi ấy tớ bị ám ảnh về sự ngược đãi nào đó… vì tớ luôn luôn làm mọi thứ được giao mà không phàn nàn lấy một lời. Và cũng vì quá tiện dụng như thế mà phải chăng thầy nghĩ rằng việc ai đó đùn trách nhiệm lên tớ cũng chả phải là cái gì đáng quan tâm?”

Chống mình vào cán chổi như thể nó là cái cần cẩu, tôi tiếp tục:

“Và rồi tớ suy nghĩ thêm chút nữa. Cậu biết ấy, rốt cuộc thì việc nhà Tanaka xây lại đâu hề liên quan gì đến tớ đúng không? Vậy việc tớ làm dùm phần việc của cậu ấy có đúng hay không? Không đúng một chút nào. Việc của Tanaka thì cậu ấy phải lo. Tớ chẳng có nghĩa vụ gì hết. Ừ thì dù gì cũng là bạn là bè, giúp đỡ nhau một chút cũng chả sao, chưa kể việc tưới nước hay gieo hạt cũng đâu thể nói là khó hay cực gì? Nhà tớ cũng gần, về nhà cũng nhanh… Đấy, chính những ý nghĩ đó khiến tớ ngây ngô để mình có cơ hội bị lợi dụng.”

Và Tanaka đã nắm lấy nó.

Sau sự việc này, tôi bắt đầu nhận ra rằng có hai loại người: những người biết thế giới này vận hành thế nào và đẩy mọi thứ họ không làm cho người khác và những người vui vẻ chấp nhận làm cái bịch hốt rác cho người kia nhét vào. Năm lớp sáu ấy – không, khi đủ lớn để nhận thức về xung quanh mình tôi bắt đầu nhận ra mình là nhóm thứ hai. Thế là mọi ký ức dồn về như thác lũ, từng – cái – một! Khi đó, khi đó, và cả khi đó nữa… vậy đấy. Tại sao tôi là người bị sai phải mang một chai sốt xà-lách nặng cả lít khi lớp đi dã ngoại? Rồi khi trường suýt nữa phải tạm đóng cửa vì dịch cúm bùng phát tại sao không ai khác mà là tôi phải đến từng nhà các bạn bị bệnh để đưa hộ bài tập? Tại sao, khi cả bọn lỡ đá quả bóng làm vỡ kính cửa sổ thì tôi lại một mình tới phòng hiệu trưởng để xin lỗi thay cho mọi người, mà nhận một tràng chửi rửa chỉ vì trận bóng ấy tôi làm đội trưởng? Không. Tất cả là vì tôi-đã-không-phản-đối!

Chẳng có thứ gì là không lo được, dù gì thì tôi cũng trải qua đấy thôi. Tôi không xem những thứ đó là lỗ thiệt của mình, cũng không khinh ghét những người đó vì họ chỉ đứng ngoài mà coi nhẹ mọi chuyện…

Chỉ là, tưởng tượng việc chính mình bị coi như một công cụ tiện dụng khiến tôi đau!

 

Tôi lại nhớ thêm một ký ức nữa.

Khi khám phá ấy khiến bản thân buồn đến mức cứ mãi im lặng thì sẽ đau đớn lắm, tôi bèn tâm sự cả với chị.

Mình có nghĩ rằng làm người thì nên giúp đỡ nhau nhưng chưa chắc người ta nghĩ rằng mình đáng nhận được điều đó. Em không hề muốn người ta mang ơn mình. Em chỉ không bao giờ tưởng tượng được họ lại coi em như thằng ngốc. Không còn những buổi ở lại sau giờ tan học nữa. Khi nào còn có người xung quanh thì họ sẽ còn nhờ em làm chân sai vặt. Họ nghĩ em ngu tới mức chỉ biết làm mà không biết từ chối. Em cóc cần quan tâm họ nghĩ gì. Em chỉ ghét việc người lợi dụng người. Dĩ nhiên việc phải làm thì em sẽ làm, sẽ không phàn nàn một lời nào. Nhưng, nếu nó không cần thiết… nếu hóa ra nó là trách nhiệm của bất cứ một ai khác… Việc em không cần làm thì em sẽ bỏ. Tuyệt đối sẽ bỏ!

Nghe xong lời bộc bạch chẳng nhắm vào cái gì cụ thể ấy, chị đặt tay lên đầu tôi mà nói:

Ừ. Em là một đứa kỳ quặc luôn muốn mình hữu dụng với người khác. Và dù thực sự là một thằng ngốc nhưng em lại có những phần quá thông minh khiến người không hiểu chuyện dễ dàng thấy khó chịu. Không sao hết. Chị không cản em. Mình có làm gì hại ai đâu phải không nào? Chị không nghĩ những lời vừa rồi của em có gì sai cả.

Sau đó chị có nói thêm gì không nhỉ? Tôi có cảm giác là còn. Phải rồi, phần còn lại là…

Từ bây giờ em hãy đi nghỉ đi - một kỳ nghỉ dài. Đó là điều tốt nhất. Cứ tận hưởng nó thoải mái và bình thản. Cũng đừng lo gì hết. Kỳ nghỉ này dù có dài bao lâu cũng không thay đổi bản chất của em được đâu…

 

"—ki-san."

Mải mê trong dòng ký ức khiến tôi không nhận ra tiếng gọi của Chitanda.

“Ưm, xin lỗi. Cậu mới nói gì à?”

Gương mặt của Chitanda đã ở ngay phía trước, đôi mắt to tròn nhìn thẳng vào tôi.

“Cậu đã rất buồn phải không Oreki-san?”

Quay mặt đi, tôi cười.

“Không quá tệ cho lắm. Lúc đó tớ chỉ là một thằng nhóc rầu rĩ không biết làm thế nào cho tốt mà thôi.”

Đó đã là một thói quen ăn sâu vào tiềm thức khiến tôi từng nghĩ rằng rất khó để thay đổi.

Việc không cần làm thì phải bỏ.

Qua khóe mắt tôi thấy Chitanda nắm chặt hai tay vào cán chổi. Vẫn nhìn tôi, nhỏ nói:

“Tớ nghĩ là, dù vậy, Oreki-san… Về ‘cậu’ trong câu truyện ấy và ‘cậu’ đang đứng ở đây… Tớ vẫn nghĩ rằng hai người không khác gì nhau cả.”

 

Tôi rất muốn cười vào lời nhận xét đó.

Nhưng chẳng có một nụ cười cả.

 

Lùi lại một bước, Chitanda khom lưng xuống để nhặt cái bao bấy giờ đã đầy lá khô.

“Cám ơn cậu rất nhiều. Nhờ cậu mà nơi này đã sạch đẹp trở lại.”

“Ừ.”

“Kaho-san có lẽ sẽ mang bánh với trà cho tụi mình đó. Cậu có muốn ngồi lại thêm chút nữa không?”

Tôi cười nhẹ mà vẫy tay từ chối. Một lần ngồi giữa hai cô nàng là đủ lắm rồi.

“Thôi. Đưa chổi đây tớ mang xuống.”

Nhận lấy cây chổi tôi lại tựa mỗi cái vào một bên vai. Quay lại để tránh đụng cán chổi vào người nhỏ, tôi bước lùi mà nói:

“Chào Juumonji dùm tớ. Về trước nhé.”

Tôi bước xuống những bậc thang che bóng bởi các tán cây. Thanh âm của gió vuốt ve những bè lá lại lần nữa dịu nhẹ bên tai. Một ngày đẹp và kỳ lạ thế này vẫn chưa kết thúc ư? Cũng mong khi về tới nhà thì đống đồ đem phơi cũng kịp khô…

Tôi vẫn nghe thấy lời cuối cùng của Chitanda.

“Oreki-san! Cám ơn vì đã kể cho tớ câu chuyện của cậu. Tớ thực sự vui vì cậu đã làm thế!”

Vác chổi cồng kềnh thế này mà quay lại thì phiền lắm nên tôi cứ làm bộ như mình không nghe. Việc không làm thì bỏ… Ôi trời, bạn thấy gì chưa? Dù ngày hôm nay có bất thường thế nào thì chỉ cần tới đây là tôi đã trở về như cũ!

Tôi gãi đầu…

Rồi chợt nhớ ra. Đó là phần còn lại của những gì bà chị yêu dấu đã nói lúc đó, khi chị vò tóc tôi một cách đầy mạnh bạo…

 



Chị chắc rằng một ai đó sẽ kết thúc kỳ nghỉ này cho em.



Dù được ban đôi cánh[sửa | sửa mã nguồn]

1[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa mưa kéo dài đã kết thúc, để lại vỏn vẹn một vệt mây hình cánh hoa tha thẩn giữa trời đêm được chiếu sáng bởi ánh trăng. Khuya thế này nhưng làn gió ùa vào phòng thật ấm áp và long lanh như chào đón mùa hè. Nhận thức được những đôm sáng long lanh từ đằng xa nhưng lúc này đôi tay tôi đang bận rảo trên những phím đàn còn mắt thì lia từng dòng trên bản nhạc

Nhớ như in trong đầu diễn tiến của bài hát, tôi chầm chậm ngân nga theo từng nhịp. Chút ngượng ngùng khi nghĩ đến việc ra âm thanh “là lá la” của mình sẽ vang bao xa trong sự tĩnh lặng này tôi bèn dịu giọng xuống một chút mà, như muốn nuốt trọn bài hát, tiếp tục ngân nga mỗi cái giai điệu đó không biết bao nhiêu lần. Tạm thời hài lòng với cao độ tôi hít một hơi sâu, định bụng sẽ bắt đầu thêm lời vào…

Cùng lúc đó, một âm thanh từ bên kia cánh cửa gọi tên tôi.

“Eru.”

Là ba.

Gần như chưa bao giờ ba đi đến tận phòng để gọi tôi. Là tiếng đàn hay tiếng ngân nga lúc nãy quá ồn ào chăng? Tôi đáp rụt rè:

“Dạ vâng?”

“Theo ta vào phòng thờ.”

Như mọi khi, giọng nói của ba cực kỳ nghiêm trọng nhưng không tỏ ra giận dữ. Tôi nửa nhẹ nhõm nửa lo lắng vì yêu cầu có phần kỳ lạ này. Phòng thờ thường chỉ được dùng vào những lúc đại sự và tôi chẳng nghĩ ra một dịp nào gần đây cả.

“Con đến ngay ạ.”

Âm thanh những bước chân phai nhòa dần. Có lẽ hôm nay tập đến đây thôi. Nghĩ vậy tôi hạ nắp cây đàn organ lại rồi đóng chặt cửa sổ…

Một cảm giác chần chừ ập tới chỉ vừa khi tôi chuẩn bị bước ra khỏi phòng. Ba muốn nói về việc gì đây? Chẳng vì lý do gì nhưng tự dưng tôi lại e sợ.

Hay là quay về tập hát tiếp nhỉ? Suy nghĩ đó chợt thoảng qua đầu.

Dĩ nhiên là không thể! Bình tâm lại, tôi rồi cũng chế ngự được nỗi sợ mà cười vào nó một cái trước khi tắt đèn phòng.

Ngoài cửa sổ, xuyên qua lớp màn nhung chưa rủ xuống là một vệt mây lững lờ trước vầng trăng.


2[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàn tất kỳ thi cuối kỳ nghĩa là chỉ còn chờ tới kì nghỉ hè, nên chẳng lạ gì khi ngôi trường Cao trung Kamiyama lúc này tràn ngập trong bầu không khí của mệt mỏi và lười biếng. Phòng học dạy môn Địa Chất cũng không ngoại lệ… mà, tôi đang nói như thể nó vốn không vậy ngay từ đầu ấy. Và cũng đã lâu lắm rồi trước mắt tôi mới có một cảnh tượng như vầy – cả bốn thành viên CLB Cổ Điển đều có mặt trong phòng.

Mỗi người trong chúng tôi tìm cho mình một chỗ trong căn phòng vốn đủ lớn để nhét cả một lớp. Nói vậy nghe có vẻ xa cách chứ thực ra cũng gần như là tụ ở trung tâm.

Chitanda và tôi ngồi đọc trong im lặng. Quyển truyện chữ lần này kể về một ninja, một người công chúa cùng đứa con ngoài giá thú của họ. Toàn bộ cốt truyện là những diễn tiến nhanh và liên tục các sự kiện quan trọng mà chẳng áp dụng bất cứ nghệ thuật dụng từ đặc biệt nào. Mỗi chương chỉ thẳng đuột từ việc nhân vật chính gặp cái này rồi đụng cái kia. Cũng không có lấy một câu chữ hàn lâm – nói chung là rất dễ đọc và cũng quá hợp với cái đầu mới trải qua kỳ thi căng thẳng của tôi.

Không biết Chitanda đang đọc gì nhỉ. Từ xa khó nhìn rõ nên tôi chỉ thấy đó là một cuốn sách khổ lớn với nhiều hình ảnh nên đồ rằng là một cuốn cẩm nang du lịch nào đó… nhưng chẳng màng tới việc hỏi vì xem ra đó không phải cuốn sách thú vị cho lắm. Bằng chứng là nãy giờ Chitanda chỉ dán đôi mắt của nhỏ vào những trang sách một cách lơ đễnh.

Ibara và Satoshi thì đang đưa bút tới lui trên mặt vở mà thủ thỉ với nhau về một người có trời biết… Dừng đọc lại mà nhòm trộm tôi để ý Ibara đang là người dẫn dắt cuộc thảo luận. Với cây bút trong tay và gương mặt lộ vẻ mâu thuẫn, nhỏ rù rì:

“Là cái tay. Vấn đề chắc chắn nằm ở cái tay.”

Satoshi gật đầu đồng tình.

“Ra là vậy, đúng là cái tay há.”

“Người này không thể cử động cánh tay phải… Thực ra, nếu tớ có thể vẽ sao cho trông như đó là một vấn đề tâm lý – kiểu như người này không muốn dùng ấy – thì đó có thể là một chút báo hiệu cho người đọc.”

“Gà bài một chút cho người đọc là một ý tưởng hay.”

Xem ra hai người họ đang phác thảo nội dung của một manga đang sáng tác.

Từ khi rời khỏi Cộng đồng Nghiên cứu Manga, Ibara không còn tỏ ra bất cứ một sự e ngại nào trong việc để người ta biết về sở thích của cô nàng cả. Cũng có thể vì cả Chitanda và tôi đều đã biết nên chẳng việc gì phải giấu giếm hay xấu hổ, hoặc phải chăng việc rời bỏ cái CLB đó đã khiến nhỏ thay đổi?

Chitanda đã được định sẽ kế thừa sự nghiệp của gia đình còn Ibara thì quyết đoán với đam mê của nhỏ, để mặc tôi và Satoshi với nỗi do dự đầy thảm hại. Đúng là một tình huống phiền phức.

… Không, tụi này mới là bình thường, là những học sinh như bao học sinh lớp mười một bình thường khác hoàn toàn chưa chắc chắn về tương lai. Hai nhỏ đó là những người duy nhất đã bước đến giai đoạn chau chuốt cho con đường của mình và đó mới là bất thường.

“Nếu cho thêm một nhân vật hỏi anh ta rằng ‘Tay anh bị sao vậy?’ thì tớ nghĩ vẫn tốt hơn nhưng vấn đề là người đó phải ở một mình torng cảnh này. Tự nhìn tay mình rồi thốt lên một tràng độc thoại tự coi thường bản thân thì nó… kiên cưỡng thế nào ấy… Phải làm sao đây?”

“Một mình à…”

Đến đây Satoshi chợt cười toe toét mà thêm vào:

“Khi ở một mình thì cậu làm gì?”

“Tớ à… ưm…”

Không chút thắc mắc nào, Ibara khoanh tay mà nhìn trân trân lên trần nhà. Một hồi sau nhỏ thốt lên với đôi mắt long lanh.

“Đúng rồi! Hay quá Fuku-chan, chính là vậy! Hóa ra tớ không cần phải nghĩ đến như vậy. Tại sao phải phức tạp hóa một vấn đề đơn giản nhỉ? Tất cả những gì tớ cần làm là cho người đó uống chút cà phê. Anh ta thoạt đầu sẽ cố gắng cầm bằng tay phải, nhưng chuyển cảnh thì sẽ lả tay trái. Đúng vậy, thế là đủ tự nhiên. Chỉ cần thế thôi!”

Khỏi phải hỏi cũng biết tôi hoàn toàn chẳng hiểu mô tê gi, chỉ là hình như Ibara vừa có một sáng kiến. Phác sơ những nét lên trang vở xong, nhỏ đóng lại rồi chốt hạ bằng một tiếng:

“Tốt!”

“Bước đầu thế là xong rồi nhỉ.”

“Gần như là vậy. Dù chưa thể vẽ ngay nhưng tớ đã mường tượng ra sản phẩm cuối cùng sẽ như thế nào rồi.”

“Vậy là quá ngon.”

Khen xong Satoshi cũng bồi thêm vào: “Nhưng lần này ít nhất cũng cho tớ biết cốt truyện nó như thế nào nhé.”

Vậy là hắn nãy giờ đã đưa ra hết đề xuất này đến gợi ý khác mà thoạt nhiên không biết đầu đuôi câu truyện là gì sao? Nên thất vọng hay cực kỳ ngưỡng mộ đây không biết.

Có lẽ nhẹ nhõm vì đã vượt qua một trở ngại, Ibara nói với âm điệu ít nhiệt tình hơn hồi nãy:

“Nói về cà phê thì hôm rồi tớ có gặp một chuyện kỳ lạ.”

“Vậy sao?”

“Tớ đến một cửa hàng bán dụng cụ vẽ ở Kiryuu, rồi…”

“Tận Kiryuu á? Sao phải đi xa thế?”

Satoshi là người cắt ngang câu chuyện và tôi liền hiểu vì sao. Kiryuu là vùng cực bắc của thành phố và phải tốn hai mươi phút từ trường cao trung Kamiyama mới tới được. Còn tính từ nhà Ibara thì tệ nhất phải cả tiếng. Gần đây đâu phải là không có tiệm bán đồ vẽ nhỉ?

Nhỏ tỏ vẻ không vui mà đáp:

“Chịu thôi. Vấn đề là… chỉ có nơi đó mới bán loại tone khá là xưa đó thôi. Dù không dùng nhiều nhưng cũng nên có chút phòng khi cần.”

“Ra vậy.”

“Tone” là cái quái gì nhỉ? Chỉ đoán được đó là một thứ cần có để vẽ manga. Hứng thú tự dưng không còn nữa tôi bèn quay lại cuốn truyện chữ và liếc qua cái đồng hồ bấy giờ đã chỉ năm giờ. Bắt đầu từ lúc này thì khó mà đọc xong hết một chương mới trước khi trường đóng cổng. Về nhà rồi tiếp vậy, nghĩ bụng tôi đóng quyển truyện lại. Nhận ra điều đó Ibara quay về phía tôi.

“Oreki, ông cũng nghe nhé.”

“Thì đang nghe đây.”

“Thế à? Ừ thì, sau khi mua đồ xong tớ thấy khát khô nên quyết định ghé vào quán cà phê gần đó… xem như thư giãn chút vì dù sao cũng thi xong rồi. Nghe đồn nơi đó bán cà phê ngon nên tớ cũng thử và, nói sao nhỉ, vị cùa nó rất kỳ. Chẳng hiểu tại sao nữa.”

“Tớ đang tưởng tượng cậu đang ngồi với một tách cà phê trong cái quán đó. Y xì Houtarou.” Satoshi nói mà gắng nhịn cười.

Phồng má lên, Ibara chống chế: “Là tham khảo, chỉ là tham khảo xem quán đó có ngon không mà thôi! Nè, ý tưởng lúc nãy cũng từ đó mà ra chứ bộ.”

“Biết mà biết mà. Rồi… thế cái vị nó kỳ làm sao?”

Như Satoshi đã chỉ ra, tôi có thói quen đi đến những quán cà phê. Không đến mức nhận ra sự khác biệt nhỏ nhoi giữa các loại cà phê khác nhau nhưng ít ra tôi cũng biết thế nào là ngon và thế nào là dở. Nói chung là cả đời này tôi chẳng thể tưởng tượng ra cà phê mà “vị kỳ”.

Vội vẫy tay qua lại trước mặt, Ibara đính chính:

“À, thực ra khi nói kỳ thì ý tớ là ở đường.”

Tôi ngày càng thấy khó hiểu. Đường thì ngọt và cái chân lý ấy chả bao giờ thay đổi. Dường như Satoshi cũng vậy. Đơ một hồi, hắn phá ra cười mà nói:

“Tớ hiểu rồi. Nó chua phải không?”

“… Fuku-chan, cậu đang nghĩ tớ dở hơi đúng không?”

“Đùa tí thôi mà.”

Trừng mắt nhìn cái cười vô tư lự của Satoshi một lúc, rồi Ibara thở dài mà nói: “Không phải. Nó ngọt.”

“Ngọt thì không phải là bình thường sao?” Satoshi và tôi lên tiếng cùng một lúc.

Ngay lập tức Ibara dộng tay xuống bàn cái rầm một cái.

“Tớ nói ra ở đây là vì nó không bình thường!”

Vâng, thưa quý cô.

Nhìn cho tới khi chắc rằng hai cái mồm của tụi tôi không thể mở ra được nữa, Ibara tiếp tục: “Không chỉ là ngọt, mà nó cực kỳ ngọt. Trừ cái thứ cà phê đóng lon thì không gì có độ ngọt kinh khủng như vậy nên tớ đã rất ngạc nhiên.”

“Hay là tại cậu lỡ bỏ quá tay?” Tôi hỏi, và có lẽ hối lỗi vì chưa cung cấp đủ thông tin mà Ibara liền gật đầu.

“Kể chi tiết nhé. Đầu tiên tớ gọi một cà phê và một miếng bánh. Đó là bánh vị chanh và nó gần như là không ngọt, theo ý tớ. Người phục vụ đã hỏi rằng có cần sữa và đường không và tớ nói có. Cà phê được mang ra đã có sẵn sữa ở trong cùng hai viên đường đặt lên đĩa. Húp thử một ngụm đầu thì thấy bình thường, vì vậy tớ cho một viên đường vào rồi uống tiếp thì… cơ bản chẳng khác gì nước đường nữa.”

Satoshi gật gù.

“Vậy là đường viên à… Nếu họ đưa cho cậu đường nhuyễn thì còn có thể nghĩ là cậu bỏ quá tay.”

“Vấn đề ở chỗ đó. Một viên đường lại có thể khiến một tách cà phê trở nên ngọt như vậy là rất kỳ lạ. Đã suy nghĩ rất nhiều nhưng tớ vẫn chưa tìm ra điều gì bất thường cả.”

Satoshi khoanh tay lại và nghiêng đầu tỏ vẻ suy tư.

“Hừm… đường siêu ngọt sao…”

“Lạ đúng không?”

“Đúng vậy, nhưng bảo là không có khả năng thì không phải.”

Ibara rướn người lên trước.

“Thật sao?”

Satoshi gật đầu một cách trang trọng rồi nói:

“Có những chất tạo ngọt mà độ ngọt của nó gấp hàng trăm… không, hàng ngàn lần so với đường. Nếu thêm vào cùng lượng như là đường bình thường thì đồ uống của cậu chắc chắn sẽ rất rất ngọt.”

“Hừm…” Ibara tỏ ra không hài lòng lắm mà đáp lại đầy thận trọng:

“Đúng là rất ngọt nhưng, như đã nói, ít ra với tớ nó chưa tới mức không uống được như cà phê lon. Với lại cậu đã từng thấy người ta đóng những chất tạo ngọt như vậy thành viên chưa?”

“Không, chưa từng. Tớ thậm chí còn không tưởng tượng nổi một thứ như thế tồn tại.”

Thế thì đề cập làm cái gì vậy trời.

“Có thể là một loại đường ngọt hơn bình thường nào đó. Ví dụ như, bằng một phương pháp sản xuất khác hay là từ nguồn khác với thứ tụi mình dùng hàng ngày.”

Buông thõng tay, Satoshi quay về phía Chitanda mà hỏi:

“Này, Chitanda-san có ý tưởng gì không?”

“Hở?”

Chitanda, người nãy giờ vẫn chăm chú vào cuốn sách khổ to với đôi mắt đờ đẫn, ngước lên như thể vừa bị Satoshi kéo tuột về hiện tại.

“Vâng, cậu vừa nói gì à?”

Tôi dám chắc rằng âm lượng của cuộc nói chuyện nãy giờ đủ lớn nhưng xem ra nhỏ hoàn toàn không để tâm. Lại cười toe toét, Satoshi đáp: “Mayaka nói rằng cậu ấy đã tới một quán cà phê rồi thế này thế kia và họ có cho cậu ấy vài viên đường. Tụi này đang bàn luận với nhau nguyên do vì sao mà viên đường đó có vẻ ngọt hơn ình thường. Cậu có rành về khoản này không?”

“Ồ, vậy à.”

Chitanda đóng sách lại rồi mỉm cười, nụ cười chợt khiến tôi nhận ra có gì không ổn trong biểu cảm của nhỏ. Nhỏ vốn rất biết giữ ý, chẳng bao giờ cười toe toét, nổi trận lôi đình hay nói cái gì quá đáng. Nhưng dù có bao gồm hết những tính cách trên thì tôi vẫn thấy đó là một cái cười gượng ép, không muốn nói là giả tạo.

Nhỏ từ tốn trả lời: “Xin lỗi, nhưng nhà tớ không trồng mía hay củ cải lấy đường.”

“Vậy à, thế mà tớ cứ nghĩ là cây trồng nào cậu cũng rành rọt ấy.”

Nghe vậy ngay lập tức nhỏ cúi mặt xuống mà thì thầm.

“Tớ không biết thật. Tớ xin lỗi.”

“Ấy đừng! Cáo lỗi, cáo lỗi. Nói vậy đúng là khiếm nhã quá. Chỉ là tớ tự hỏi có loại đường bình thường nào ngọt hơn bình thường hay không thôi… Khó quá nhỉ, nhưng tớ lại rất hiếu kỳ.

“Ừm, khó quá.”

Với cách trả lời như vậy tôi cũng chẳng biết nhỏ có thực sự tham gia vào cuộc bàn luận hay là đang nghĩ gì khác.

Ibara nhìn tôi trân trân. Nếu phải đoán thì có lẽ ánh mắt nhỏ như muốn nói “Chi-chan hôm nay sao kỳ vậy nhỉ? Ông có biết gì không?” Tôi chỉ biết lắc đầu thay cho lời đáp “Hoàn toàn không”.

Cuộc đối thoại không lời giữa chúng tôi vô tình tạo ra một khoảng lặng. Như muốn cứu vãn tình hình, Satoshi quay sang tôi mà hỏi:

“Houtarou nghĩ thế nào? Cậu có tin một loại đường như vậy tôn tại không?”

Nghe nãy giờ thì thực ra cũng có một ý tưởng. Tôi nghĩ bụng rằng chẳng cần thiết phải nói ra khi chưa bị hỏi tới, nhưng giờ bị rồi thì không cần giấu làm gì.

“Tớ không nghĩ chuyện này khó giải thích như các cậu làm nó thành như vậy.”

“Ồ, thật sao!” Satoshi đầy sửng sốt.

Ngược lại đôi mắt của Ibara sáng lên thấy rõ.

“Ý ông là sao? Nãy giờ ông có nghe không đấy? Tôi chả thấy điều gì bất thường ở cái viên đường đó cả.”

“Vậy thì có lẽ nó chỉ là một viên đường bình thường.”

“Hay ý ông là vị giác của tôi có vấn đề?”

“Và cậu chắc chắn sẽ phản đối.” Tôi gãi đầu rồi tiếp tục: “Nãy cậu đã mô tả rồi đúng không? Cái cách mà ly cà phê được phục vụ ấy.”

Satoshi chen vào ngay: “Trên đĩa có hai viên đường.”

“Đúng thế, nhưng tớ không nói về những viên đường.”

Cả Ibara và Satoshi đều im lặng với vẻ mặt lộ rõ sự bối rối. Khóe mắt tôi hướng về Chitanda, và dù trông như chăm chú nghe cặp mắt nhỏ vẫn dán vào một điểm vô định nào đó như thể không nhận ra là tôi đang nói.

“Ibara. Khi cậu gọi cà phê thì người phục vụ đã nói gì?”

“Tôi đã kể rồi mà. Họ hỏi có cần đường và sữa không.”

“Đó thực sự là những lời họ nói, đúng-từng-chữ sao?”

Ibara cúi mặt xuống như muốn lục lại trí nhớ. Nhỏ lắc đầu: “Tôi không nhớ rõ lắm.”

“Ờ thì hỏi vậy có hơi quá đáng. Xin lỗi nhé. Thực ra người ta quên những chuyện như thế cũng bình thường, và tớ chỉ nghĩ họ có thể đã hỏi là: ‘Quý khách có cần thêm đường và sữa không?’ “

Nhỏ gật đầu.

“Nhưng tôi đã thử một ngụm và vì cảm thấy quá đắng nên mới bỏ viên đường vào. Như cậu nói thì trong tách cà phê đã phải có sẵn đường nhưng rõ là không phải thế.”

“Đúng, cậu sẽ nghĩ vậy. Cơ mà, sau khi bỏ viên đường vào thì cậu làm gì?”

“Uống nó.”

“Không, ý tớ là trước đó.”

“Thì có ăn một miếng bánh, nhưng…”

“Không có đả động gì tới cái bánh hết.”

Chitanda, người nãy giờ chỉ nghe trong im lặng cuối cùng cũng chủ động lên tiếng:

“Ưm… có lẽ ý của Oreki-san là cậu đã khuấy ly cà phê lên.”

Nghe vậy Satoshi chợt thốt lên: “Ôi, đúng rồi!” Đoạn hắn quay sang Ibara mà tiếp tục đầy phấn khởi: “Đúng thế. Tách cà phê của Mayaka vốn đã được bỏ đường, nhưng vấn đề là nó bị chìm xuống đáy tách nên ở ngụm đầu tiên cậu đã không thấy ngọt. Cho đến khi thêm viên đường ở ngoài vào và khuấy lên…”

Ibara lúc này đã nhận ra.

“Tớ hiểu rồi. Việc đó tương đương với bỏ hai đường vào cùng một lúc.”

“Rất có khả năng là như thế.”

Nói xong Satoshi gật đầu đầy mãn nguyện. Hắn quay sang tôi và cười.

“Phải nói điều này không biết bao nhiều lần, nhưng cậu đúng là kiểu thám tử ngồi ghế bành.”[20]

Đâu phải cái gì thiên tài lắm đâu… chẳng qua là lấp vào chỗ sót trong trí nhớ của Ibara mà thôi.

Còn Ibara lúc này lại lưỡng lự đáp: “Ừ… tôi cũng nghĩ là có lý nhưng… nói chung là trí nhớ lờ mờ quá. Tôi nghĩ là mình không thể chắc trăm phần trăm đó là đáp án được. Chắc phải tới lần nữa để kiểm chứng.”

Quán cà phê đó gần nơi Ibara quen mua dụng cụ vẽ nên thích thì nhỏ cứ đi, chứ với lượng thông tin hiện tại thì tôi chỉ nghĩ được thế. Nghĩ đến việc về nhà, tôi định bỏ cuốn truyện vào trong cặp thì Satoshi chợt đề xuất: “Vậy tụi mình cùng đi nhé.”

Tôi bèn chúc hai người họ may mắn trên cuộc hành trình dài cả tiếng ấy…

“Dù gì thì cũng tới lúc nên bắt tay vào tập san cho năm nay rồi mà.” Hắn tiếp tục.

“Ừ nhỉ..”

“Dịp quá tốt đúng không?”

Dù là chuẩn bị cho lễ hội văn hóa thì có cần phải đến một nơi tuốt ngoại thành như vậy không? Ở trường không được à? Cơ mà, đến đó uống cà phê và tiện thể giải quyết luôn cái bí ẩn kia… ừ thì cũng không tệ. Tôi kiềm lại một phản ứng tiêu cực mà chỉ nói:

“Giờ mà đi thì quá trễ.”

Đã năm giờ bốn mươi phút chiều.

“Đúng rồi. Vậy mai nhé…” hắn khựng lại, “thực ra mai tớ bận. Việc bên Hội Học sinh.”

Mai là lễ bế giảng. Hiển nhiên Hội học sinh sẽ không thiếu việc để làm.

“Thế ngày mốt thì sao?”

Mới ngày đầu của kỳ nghỉ hè mà đã làm việc thì chúng tôi thiệt là chăm chỉ. Ibara có vẻ không phản đối. Vừa nghĩ rằng cuộc hẹn coi như được chốt thì Chitanda lên tiếng, giọng lí nhí như thì thầm:

“Xin lỗi, nhưng bữa đó tớ bận rồi.”

Sắc mặt Ibara lập tức thay đổi.

“A, đúng nhỉ! Xin lỗi tớ quên mất.”

Cả tôi lẫn Satoshi đều không hỏi gì. Sự im ắng nặng nề lại lần nữa chiếm lấy căn phòng cho tới khi Ibara tiếp tục.

“Chi-chan phải biểu diễn trong Liên hoan Hợp xướng.”

“Vậy à. Thế cũng không được rồi.”

Satoshi gật gù tỏ vẻ thấu hiểu, để lại mình tôi là chưa kịp hiểu gì. Biết là trường này rất mạnh về hoạt động nghệ thuật với chương trình này liên tiếp lễ hội kia nhưng tôi chưa lần nào nghe đến cái nào là “Liên hoan Hợp xướng”.

“Mới vào hè đã tổ chức rồi à? Trong nhà thi đấu sao?”

Sau câu hỏi tôi liền nhận được hai cái nhìn sắc lạnh.

“Dĩ nhiên là không.”

“Đó là sự kiện toàn thành.”

Hóa ra không phải là của trường. Cũng phải. Có lơi là với mọi sự cuồng nhiệt trong cái khuôn viên này đi nữa thì tôi cũng không tin mình lại bỏ qua một hoạt động lớn. Nhẹ cả người.

“Tên đầy đủ là Liên hoan Hợp xướng Ejima, lấy tên của nhà soạn nhạc nổi tiếng của thành phố Kamiyama là Sandou Ejima. Hằng năm các ban hợp xướng không chỉ nội thành mà ở những thị trấn gần đó cũng tề tựu về đây. Họ hát đủ thể loại và không chỉ những bài hát do Endou sáng tác.”

“Tớ chưa từng nghe tới.”

Có lẽ chủ đề này chỉ mỗi mình Satoshi là chuyên. Ưỡn ngực đầy tự tin, hắn tiếp tục:

“Đó là nhạc sĩ chuyên viết nhạc cho một tạp chí giành cho thiếu nhi thời Đại Chính[21] tên là ‘Ngọn nến đỏ’. Ông cùng với Hakushuu Kitahara, Yaso Saijou, và Ujou Noguchi được mệnh danh là ‘Tứ đại thiên vương của dòng nhạc thiếu nhi’ cơ đấy.”

Tôi ngờ rằng cái danh “Tứ đại thiên vương” lại là sự thổi phồng của Satoshi.

“Tôi được Chi-chan rủ nên có tới tập một lần, nhưng vì muốn tập trung vào manga nên…” Giọng điệu Ibara tỏ ra đầy hối lỗi, có lẽ không chỉ nói với tôi mà cũng là giành cho Chitanda – người không đáp lại lời nào. Chắc nhỏ chưa nhận ra ngụ ý của Ibara.

CLB Cổ Điển suy cho cùng cũng chỉ là một hoạt động ngoại khóa của Cao trung Kamiyama, và ngoài điều đó thì không có gì thực sự liên kết chúng tôi cả. Tôi chẳng biết và cũng chẳng nghĩ rằng biết từng chút một những thứ xảy ra ở ngoài trường là quan trọng. Có lẽ vì thế mà suy nghĩ về cảnh Chitanda cùng Ibara hát trong ban hợp xướng làm tôi ít nhiều bất ngờ.

Đan tay phía sau gáy, Satoshi tuyên bố:

“Vậy thì để bữa nào gặp nhau lại rồi quyết định vậy, mà thậm chí gọi điện bàn bạc cũng được.”

Tôi hiểu lời nói này chỉ là che đậy cho việc hắn sẽ cố gắng sắp xếp cho cả bọn. Satoshi là vậy, luôn ôm việc nhiều hơn mọi người và một khi đã làm là không có à ư tại bị gì hết. Tôi thực sự ấn tượng về hắn ở khoản đó.

“Vâng, tớ nghĩ sẽ ổn thôi.”

Lời đáp của Chitanda là tín hiệu cho biêt hôm nay thế là xong chuyện. Ngày mùa hè đúng là dài thật, đã gần sáu giờ mà trời vẫn chưa chuyển tối. Bỏ cuốn truyện vào cặp, tôi đứng dậy mà nói:

“Rồi, vậy tớ đi về đây.”

“Ô-kê, chào nhé.”

Không định nhòm trộm nhưng thời điểm sắp rời khỏi phòng Địa Chất tôi vô tình lướt mắt qua cuốn sách Chitanda đọc nãy giờ. Cũng có thể chỉ là tưởng tượng thôi, vì hình như đó là một cẩm nang hướng nghiệp.


3[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày đầu tiên của kỳ nghỉ hè, tôi làm cho mình một tô mỳ lạnh.

Những vầng mây xám xịt lượn lờ trên nền trời như có thể đem đến một cơn mưa bất cứ lúc nào, khiến trời trưa trở lên lạnh lẽo dù đây là mùa hè. Thời tiết thế này khó có thể nói là phù hợp với một tô mỳ lạnh nhưng không còn cách nào khác. Hôm nay là cuối hạn sử dụng của gói mỳ.

Chút dấm, xì dầu, đường, dầu mè và mirin[22] được trộn lẫn thành một thứ sốt ăn liền. Bỏ mỳ vào nồi nước sôi, tôi cũng chuẩn bị cà chua, thịt giăm-bông và tráng một lớp trứng ốp-lết mỏng hơi cháy chút vì quên tắt bếp. Cà chua thì cắt miếng còn dăm-bông và trứng được xắt sợi. Mình làm mình ăn thì chả việc gì phải trang trí, thế là tôi chỉ gạn mỳ cho hết nước rồi bỏ lên dĩa cùng với những đồ ăn khác, cuối cùng rưới nước sốt lên rồi kết thúc bằng việc trét tí mù tạt ở cạnh dĩa.

Bê đĩa mỳ ra ngoài phòng khách, thêm đôi đũa và một ly trà lúa mạch là hoàn tất. Cầm đũa trên tay, tôi chuẩn bị được tận hưởng bữa trưa ngon lành của mình thì điện thoại vang lên. Tôi cố ý lờ đi mà nhìn lên chiếc đồng treo tường. Thực ra sự bốc đồng này chỉ là do trời đánh còn tránh bữa ăn nhưng quả thực hai giờ ba mươi đã là trễ hơn một bữa trưa bình thường khá nhiều rồi. Cũng tại phơi đồ lâu quá mà ra nên chẳng thể trách người gọi được. Nhìn vào tô mỳ tôi thầm cảm ơn vì mình đã không chọn món mỳ nước. Đứng lên xoay hông qua lại mấy cái, tôi bước đến điện thoại và nhấc tay nghe.

“Vâng.” Tôi lên tiếng với giọng điệu bực bội mà không ai có quyền bình phẩm.

“Dạ, cháu là Ibara. Bạn Oreki có ở nhà không ạ?”

Rất muốn nói là không nhưng giọng nhỏ dường như nghiêm trọng hơn bình thường. Rõ là không nên đùa.

“Ibara à?”

“Ối, Oreki à. Trời ạ cái giọng trầm lúc này là gì vậy?”

“Đang chuẩn bị ăn trưa.”

“Ồ, xin lỗi nhiều. Nếu làm phiền thì để…”

Ibara mà chủ động gọi thì nghĩa là có chuyện, và tô mỳ lạnh đành phải chờ thêm vậy.

“Không sao. Có chuyện gì à?”

“À thì…”

Do dự, nhưng rồi nhỏ cũng tiếp tục.

“Ông có biết bất kỳ nơi nào mà Chi-chan có thể đang ở đó không?”

Tôi chuyển tai nghe sang tay kia mà nói:

“… Sao lại hỏi tớ?”

Rồi ngay lập tức bị mắng.

“Vì tôi đã gọi cho mọi người khác và ông là người cuối cùng.”

“Thế à.”

Tôi vốn muốn hỏi thêm rằng cụ thể chuyện như thế nào nhưng quyết định bỏ qua một bên. Ibara hình như đang ở thế bị dồn đến chân tường rồi.

“Dự đoán đầu tiên là trường mình.”

“Ừ.”

“Rồi có thư viện thành phố, rồi quán cà phê gần trường Sơ trung Kaburaya ấy – tên gì nhỉ – cái quán từng đi chung với Oohinata ấy. Còn có quán ‘Sandwich Dứa’ nữa nhưng nó dời đi rồi.”

Tôi tiếp tục liệt ra những cái tên mà Chitanda đã từng đến. Trong số đó khả năng cao nhất tôi nghĩ là thư viện. Khó mà tin được nhỏ lại đi uống cà phê một mình.

“Được rồi, cám ơn nhé. Tôi không nghĩ tới thư viện thành phố. Fuku-chan có công tác trên trường nên tôi đã nhờ nhưng cậu ấy bảo là không thấy giày của Chi-chan.”

“… Rốt cuộc là có chuyện gì?” Tôi rồi cũng phải hỏi, đồng thời nhớ lại câu chuyện của hai ngày trước. “Chẳng phải hôm nay là Liên hoan Hợp xướng à? Và Chitanda chưa đến sao?”

“Đúng vậy.”

Xem ra đây là lý do nhỏ tỏ ra vội vã như vậy.

“Cậu ấy sẽ phải lên sân khấu vào lúc sáu giờ nhưng hiện tại thì ở đâu không biết.”

Mọi sức lực như rời khỏi cơ thể tôi sau khi nghe đến cụm từ “sáu giờ”.

“Lỡ cậu ấy còn ngủ thì sao?”

“Cậu ấy khác ông.”

“Đúng là tớ đôi khi có trễ nhưng không bao giờ ngủ quá thời gian chuông báo thức cho phép nhé. Mà thôi, điều đó không quan trọng. Đã vậy thì dời phần chuẩn bị một chút không được à?”

Càng ngày lời nói của Ibara càng tỏ ra mất bình tĩnh.

“Vấn đề không phải chỗ đó. Có một cụ bà nói rằng đã đi chung xe buýt với Chi-chan từ nhà cậu ấy ở Jinde tới tận Nhà văn hóa Thành phố.”

Tôi đoán đó cũng là địa điểm tổ chức nhạc hội. Từ nhà đạp xe tới đó chắc mất tầm mười phút.

“Vậy là cậu ấy biến mất sau khi đã đến Nhà văn hóa, và tôi đoán cậu đã lục soát hết tòa nhà trước khi gọi cho tớ đúng không?”

“Nhiều lần rồi, và hoàn toàn không có chút dấu vết của cậu ấy.”

Tôi lại đổi tai nghe qua tay khác.

“Tớ có nên lo không?”

“Tôi cũng không biết nữa. Vẫn nghĩ rằng cậu ấy sẽ đến kịp giờ nhưng hiện tại người quản lý ban hợp xướng đã bắt đầu lo lắng nên mới nhờ tôi liên lạc khắp nơi.”

“Hỏi thế này thì có hơi trễ, cơ mà tại sao cậu lại đang ở đó?”

“Thì đã bảo từng đến tập chung một buổi còn gì? Hôm nay thi nên tôi cũng muốn đến phụ giúp. Dù gì cũng chỉ có một ngày.”

“Rồi hiểu. Ừ, cơ mà… cậu ấy không có ở đây.”

Tôi chủ định nói đùa để giúp Ibara hạ hỏa một chút, nhưng thay vì vậy chỉ nhận được một phản hồi lạnh tanh.

“Tôi không nghĩ tôi ấy ở nhà cậu.”

“Thế à?”

“… Rồi cám ơn. Tôi cúp máy đây.”

“Ừ.”

Đầu dây bên kia đã cúp. Tôi đặt tai nghe xuống rồi quay lại tô mỳ lạnh. Có hai điểm nổi bật của mỳ lạnh so với mỳ thường: không bị rộp lưỡi và có thể ăn rất nhanh.


Nhà Văn hóa thành phố Kamiyama là một tòa nhà bốn tầng được bao bởi những miếng ghép màu đỏ giả gạch nung. Nhà được phân thành hai khu: một hội trường lớn và một nhỏ nhưng đều mang đến cảm giác sang trọng. Phải tới khi nhìn vào bảng thông tin tôi mới biết hội trường lớn có sức chứa khoảng một ngàn hai trăm mười, gấp ba lần hội trường nhỏ. Một tấm biển đề “Liên hoan Hợp xướng Ejima” đứng dõng dạc trên thềm đá cẩm thạch đen ngay trước lối vào đang tấp nập người qua lại.

Nhạc hội có lẽ đã bắt đầu từ hai giờ. Thực tế rằng phải bốn tiếng sau mới tới lượt Chitanda lên sân khấu là đủ để hiểu cho quy mô và số lượng các đội tham dự, hoặc cũng có thể chiều và tối được phân thành hai phiên cách nhau. Dù sao thì tôi cũng chả biết được nếu không có thông tin.

Tôi bước về quầy tiếp tân mà bắt chuyện một chị mặc đồng phục màu xanh nhạt.

“Dạ…”

Người tiếp tân này, dù nhận ra tôi là học sinh, vẫn giữ thái độ tươi vui và lịch sự nói:

“Vâng. Chị có thể giúp gì cho em?”

Ngay lúc đó tôi chợt nhận ra một thiếu sót. Tôi hoàn toàn không biết mô tê gì, kể cả cái tên của ban tập xướng mà Chitanda tham dự. Lúc nãy chỉ nghĩ đơn giản là tới phòng chờ của ban nhạc và gặp Ibara…

“Này em?” Chị tiếp tân tỏ ra bối rối.

“Ồ, em xin lỗi.”

Mất vài giây để tôi chỉnh lại câu hỏi của mình.

“Chị có thể cho em biết phòng chờ của ban hợp xướng sẽ biểu diễn vào lúc sáu giờ không ạ.”

Nghe đến đây chị cười tươi rồi dò tìm một chút ở mớ giấy tờ trong tay.

“Vào lúc sáu giờ là Ban hợp xướng tổng hợp Kamiyama. Phòng A7, tầng hai đó em.”

Ồ, cái tên đơn giản thật. Cám ơn chị tiếp tân, tôi leo lên tầng hai mà nhanh chóng tìm thấy căn phòng chờ được đánh số A7. Ước đoán dựa trên khoảng cách so với cánh cửa ở phòng bên thì không gian bên trong chắc khoảng hai chục mét vuông. Cửa phòng màu trắng xám và dường như là bằng sắt được dán lên một tờ giấy đề “Ban Hợp xướng Tổng hợp Kamiyama”. Sợ rằng gõ lên cửa sắt sẽ gây tiếng động lớn nên tôi chỉ lẳng lặng mở.

Người đầu tiên trong phòng nhìn tôi với biểu cảm như vừa bị ai tát vào mặt. Đó là Ibara với đôi mắt nở to đầy ngạc nhiên.

“Chào.” Tôi giơ tay lên rồi bước vào, ngay lập tức bị vướng chân vào một cái giá để dù ở sát cạnh cửa. Cái giá có vẻ không chắc chắn ngã cái rầm dù tôi chỉ tác động một lực rất nhỏ. Một cây dù bị văng ra.

”Oái.”

“Làm cái gì vậy trời!”

Thân là người lẽ ra phải dõng dạc tuyên bố “Tiếp viện đến rồi đây!” nhưng chính tôi lại gây lộn xộn ngay ở bước đầu tiên. Một bà cụ đang ngồi ghế thốt lên “Ôi!” rồi đứng dậy, chắc đó là dù của bà.

“Cháu xin lỗi ạ.” Tôi liền dựng lại giá và đặt cây dù trở lại vị trí cũ, rồi lấy từ trong túi một cái khăn mù xoa để lau bàn tay ướt sũng.

“Không đâu, ta mới là người cần xin lỗi.”

Nói xong bà cụ ngồi xuống. Bà mặc áo khoác đầm đều màu đen toát ra một sự trầm buồn, và dáng ngồi thẳng lưng cũng để cho tôi ấn tượng rất mạnh mẽ.

Phòng chờ A7 quả thật cũng chỉ cỡ tôi ước lượng nhưng không gian bên trong lại trơ trọc đến bất ngờ. Ngoài mười cái ghế gấp thì trong phòng chỉ có thêm một cái bàn đơn dựa sát tường – không chút gì hơn. Trên bàn là túi xách các loại cùng lặt vặt đồ cá nhân. Phía tường bên kia hóa ra cũng có thêm những chiếc ghế san sát nhau. Có lẽ vì còn lâu mới tới giờ diễn nên chỉ có Ibara và bà cụ ở trong phòng. Ibara chạy về phía tôi và, có lẽ hối lỗi vì lời bộc phát khi tôi lỡ làm đổ giá dù, nhỏ chỉ nói: “Cám ơn vì ông đã tới.”

Dù đã nói chuyện qua điện thoại nhưng tôi vẫn cảm thấy mình hơi bao đồng. Tại sao phải lao đầu vào một rắc rối không ở trong trường chứ? Nhưng rồi tôi lại nghĩ thể loại người nào mà vô tình đến mức biết bạn bè có chuyện vẫn ung dung mút từng cọng mỳ nào? Thế rồi tôi đã đến đây. Nói là vậy nhưng được Ibara cám ơn khiến tôi thấy kỳ. Tôi tránh ánh nhìn của nhỏ mà nhìn quanh quất căn phòng.

“Chitanda vẫn chưa đến à?”

“Ừ. Cậu ấy lại không có điện thoại mới khổ…”

“Lẽ ra phải đến lúc mấy giờ?” Vừa nói tôi vừa dòm đồng hồ. Gần ba giờ rưỡi.

“Một giờ.”

“Sớm vậy cơ à?”

“Đại diện của các ban phải lên sân khấu khi nhạc hội khai mạc, thế nên Chi-chan phải đến từ lúc đó.”

“Vậy là trễ tiết mục khai mạc rồi, còn diễn thật thì là sáu giờ. Những người khác đâu?”

“Những người cần phải đến sớm thì đã đến rồi, giờ đang ở hội trường để nghe các tiết mục khác. Những thành viên còn lại sẽ đến vào lúc năm giờ.”

Như vậy là tới trước năm giờ việc Chitanda không xuất hiện không có ảnh hưởng nghiêm trọng gì tới ban nhạc. Âu cũng là tin tốt, nhưng việc Chitanda đột nhiên biến mất dù đã tới đây mà không nói với ai xem ra không phải chuyện nhỏ. Có chút lưỡng lự về việc nên nói những điều đang suy nghĩ với Ibara hay không, nhưng nhìn nhỏ có lẽ đã rất rối thế này tôi không thể không hỏi:

“Chúng ta có thực sự cần Chitanda không?”

“Cái gì?”

“Ý tớ là, trong một ban hợp xướng thì rất nhiều người sẽ hát đúng chứ? Dù sẽ không trọn vẹn nhưng thiếu một người cũng đâu ảnh hưởng lắm?”

Ibara lắc đầu, “Không được đâu.”

“Tại sao? Hay là hôm nay có gia đình cậu ấy đến dự?”

“Có thể, nhưng đó cũng không phải vấn đề… Chi-chan có một đoạn phải solo.”[23]

Trời ơi. Nghĩ vậy tôi ngước lên trần nhà.

Dù không biết họ sẽ hát bài gì nhưng tôi thừa hiểu người được giao trọng trách solo là ngôi sao của cả ban hợp xướng. Tình thế này khó mà cười được nữa. Ibara có lẽ chỉ lo về sự an toàn của Chitanda, chứ các thành viên còn lại hẳn là lo về việc liệu có thể trình diễn hay không ấy chứ.

Cố xua tan bầu không khí tiêu cực, tôi hỏi thêm một câu.

“Cậu còn thông tin gì về nơi cậu ấy có thể đến không?”

Ibara lấy ra một cuốn sổ nhỏ nằm gọn trong lòng bàn tay. Vừa lướt qua các trang nhỏ vừa nói:

“Juumonji-san báo rằng Chi-chan không đến chỗ cậu ấy. Ngoài trường ra thì cậu ấy còn đề xuất thêm Vườn hoa Lâu đài và tiệm sách Kobundo. Chị Irisu thì thêm vào một cửa tiệm giặt là tên Houki-ya và đền Arekusu.”

Tôi gãi đầu.

“Houki-ya thì không biết nhưng ba nơi còn lại rất xa. Đến đây bằng xe buýt nghĩa là cậu ấy phải đi bộ và những nơi đó đâu phải cứ muốn là đi được?”

“Thực ra nếu muốn cậu ấy hoàn toàn đủ khả năng… nhưng tôi không tưởng tượng ra lý do nào để làm điều đó cả.”

“Nhưng ít ra trạm xe sẽ gần hơn, ý cậu là cậu ấy có thể bắt xe buýt để đi đến những nơi như vậy à?”

“Nhưng tại sao lại làm thế?”

Tôi cũng chẳng hiểu… ý là trên phương diện bình thường. Hẳn là phải có yếu tố nào đó…

“Nè, có khi nào Chitanda muốn đi đâu đó rồi… chỉ là nói thôi nhé, lỡ cậu ấy gặp tai nạn rồi bị thương…”

“Đừng nói gở!”

GIọng Ibara như lạc đi.

“Làm thế quái nào tôi biết được…”

Tôi lại gãi đầu.

Tay nắm của cánh cửa sắt kêu “cách” một tiếng rồi cánh cửa từ từ chuyển động. Ibara và tôi liền hướng mắt theo, nhưng người đang đứng ở lối vào không phải Chitanda mà là một người phụ nữ trông cũng phải bốn mươi. Bà cô khoác áo màu be và trên tóc có đính một trang sức lóng lánh như pha lê, hoặc có thể chỉ là thủy tinh được gia công sắc sảo. Chắc là người trong ban nhạc.

“Cô Danyabashi.” Ibara lên tiếng.

Bà cô tên Danbayashi tiến về chúng tôi với bộ mặt đanh lại mà hỏi:

“Thế nào? Con bé đến chưa?”

“Chưa ạ.”

“Thế à. Không tốt rồi.”

Hàng lông mày bà nhíu lại khi lẩm bẩm những lời đó, rồi nói với Ibara như thể chợt nhận ra tôi.

“Còn đây là…”

“À vâng, đây là Oreki-kun. Tụi cháu chung CLB với nhau. Cậu ấy đến đây để giúp tìm ạ.”

Để Ibara xưng là “Oreki-kun”[24] chẳng khiến tôi dễ thở hơn chút nào. Vừa nghĩ đến tôi đã bắt gặp ánh mắt nhỏ.

“Đó là lý do cậu đến đây phải chứ?”

Dĩ nhiên. Chẳng lý gì mới đầu hè mà tôi lại tới đây để nghe nhạc cả. Gật đầu một cái, tôi liền được cô Danbayashi hỏi:

“Cháu có biết gì không?”

Nghệch mặt, tôi đáp: “Dạ không, hiện tại thì không.”

Bà cô buông một cái thở dài như cố tình.

“Thế à…”

Biểu cảm và giọng nói của cô Danbayashi lại lần nữa tràn trề trong nỗi bực dọc.

“Biết là sẽ có áp lực, nhưng nghĩ đến việc con bé thậm chí còn không xuất hiện… Thề có thần linh, thật không thể tin được!”

“Lỡ cậu ấy chỉ cần thời gian để bình tĩnh sao ạ?”

“Nếu vậy phải báo trước với ít nhất một người chứ? Dù có lo lắng cỡ nào thì biến mất mà không nói ai vẫn thật vô trách nhiệm.”

Đến sáu giờ mới biểu diễn thì nửa phần trong tôi nghĩ rằng bà cô này chỉ đang làm quá, nhưng nửa còn lại thấu hiểu rằng việc bực bội khi ngôi sao của ban nhạc lại vắng mặt là bình thường. Tuy nhiên tôi không đồng tình việc nói rằng Chitanda bỏ trốn vì áp lực. Đúng nhỏ không phải thuộc dạng không bao giờ lo lắng, ví dụ như hồi phỏng vấn qua đài phát thanh trường ấy, nhỏ chắc chắn là đã sợ tới đơ người nhưng dù có trong hoàn cảnh như vậy nhỏ vẫn hoàn thành những gì cần hoàn thành. Vì vậy đặc biệt trong dịp này khó mà khiến tôi tin được là nhỏ không chịu nổi. Có thể nhỏ có lý do để chưa đến được và chắc chắn không tầm thường như “áp lực”.

“Có lẽ chúng ta phải gọi về nhà con bé vậy.”

Cô Danbayashi tự thì thầm với mình. Ngay lúc đó bà cụ nãy giờ vẫn an toạ trên chiếc ghế xếp chợt lên tiếng:

“Không cần phải lo, tôi tin rằng cháu nó sẽ đến kịp thôi.”

“Tôi hiểu mà bà Yokote, nhưng tôi phải lo chứ.”

Đáp lại lời của cô Danbayashi, người rõ ràng đã không còn bình tĩnh, bà cụ tên Yokote không một lần tỏ ra nóng vội.

“Có nhiều thứ xảy ra với lớp trẻ – nhiều điều lắm. Cô nên cho cháu nó một tiếng nữa mà đừng la mắng tội nghiệp.”

“Lại nữa… Chẳng phải hồi nãy bà cũng nói lời này sao?”

“Nếu thế thì, tôi cho rằng mình đã nói như vậy.”

Bà cụ Yokote vẫn cực kỳ bình thản, có lẽ điều đó cũng khiến bà cô Danbayashi nhận ra sự nổi nóng của mình mà quay mặt đi.

“… Ừm, vẫn còn chút thời gian. Được rồi, chúng ta đợi thêm vậy.”

Nói xong ngay lập tức bà cô rời khỏi phòng mà không thèm nhìn tôi với Ibara một cái. Nghe tiếng cánh cửa sập vào, tôi lên tiếng hỏi mà tâm trí vẫn còn bần thần.

“Thế… đó là ai vậy?”

“Cô Danbayashi là… nói sao nhỉ, đại thể là… quản lý của ban nhạc.”

“Ý cậu là trưởng ban.”

“Không hẳn là dẫn đoàn lên hát hay hát chính gì cả. Ưm.. nói chung là tự nhận việc phụ trách thôi.”

Tôi nghĩ là mình hiểu. Thi thoảng hay có người như vậy.

“Nãy bả có nói gì đến vụ ‘hồi nãy’. Bộ lúc nào cũng thế à?”

Ibara rầu rĩ trả lời: “Đúng vậy, luôn luôn.”

Tôi liếc qua cụ bà Yokote. Nếu những thành viên khác đã cùng đến hội trường để xem văn nghệ thì hẳn là bà có lý do lưu lại đây mà ngồi một mình thế này. Một suy nghĩ khác thoáng qua đầu khiến tôi quyết định hỏi:

“Nè Ibara, nãy cậu bảo có một cụ bà đã đi chung xe buýt với Chitanda từ Jinde phải không? Là bà ấy à?”

“Đúng vậy. Là bà Yokote.”

Đúng như tôi nghĩ. Cũng khó mà chắc chắn được vì vốn vùng Jinde rất rộng nhưng khả năng cao là bà Yokote này sống gần nhà Chitanda. Họ đã biết nhau từ trước, điều này giải thích được hành động nói đỡ của bà khi nãy.

Có lẽ không chịu nổi việc đứng yên một chỗ, Ibara hướng mắt về phía cánh cửa.

“Tôi sẽ đi tìm xung quanh lần nữa.”

“Tớ cũng sẽ tìm một chút.”

“Cám ơn.”

Rồi nhanh chóng nhỏ bỏ lại tôi và bà Yokote ở lại.

Vì Chitanda chỉ mất tích sau khi đến đây nên bà cụ này hẳn là người cuối cùng để ý tới nhỏ. Cố gắng lùng sục khắp nơi để tìm là tốt nhưng với tình hình hiện tại chẳng có thông tin nào có thể dẫn tới một nơi chốn khả dĩ. Có lẽ nên tận dụng mọi thông tin từ bà Yokote đã.

“Dạ, cháu xin lỗi ạ.” Tôi lên tiếng.

Đặt tay lên đùi, bà khẽ nghiêng đầu tỏ vẻ hiếu kỳ.

“Sao thế cháu?”

“Cháu được biết là bà đã đi cùng xe với Chitanda…-san[25] ạ. Cháu đang cần mọi thông tin để tìm cậu ấy. Bà có thể kể cho cháu nghe bất cứ điều kỳ bà đã thấy không ạ?”

“Ôi trời, cháu là…”

Không trả lời câu hỏi, bà chỉ nhìn tôi rồi cười tươi.

“Ta đã nghĩ rằng mình đã gặp cháu ở đâu rồi. Cháu là cậu trai trẻ đã cầm ô cho con gái nhà Chitanda vào lễ hội Búp Bê Sống năm nay phải không? Cháu làm giỏi lắm!”

Ồ, đúng là có dịp như vậy. Bà cụ sống ở Jinde nên đến xem lễ hội cũng là việc dễ hiểu. Có khi thế này lại càng hay.

“Cháu cám ơn bà ạ. Vậy… Chitanda-san thế nào ạ?”

Tôi hỏi với giọng điệu hối thúc. Bà Yokote thì thầm “Xem nào…” rồi suy nghĩ một thoáng, trước khi trả lời chầm chậm từng câu chữ.

“Ta tự đi đến trạm xe buýt ở Jinde. Chitanda-san thả con gái xuống xe rồi mở cửa kính chào cả hai.”

“Chitanda-san” mà bà kể xem ra phải là ba hay mẹ nhỏ,[26] nhưng lúc này thông tin đó không quan trọng.

“Tiểu thư nhà Chitanda và ta chào nhau, rồi đứng che dù mà chờ tới khi xe buýt đến.”

Chi tiết thu hút sự chú ý của tôi là việc Chitanda được chở bằng xe. Lại sao lại không đi luôn từ nhà đến đây nhỉ? Ừm, câu trả lời đơn giản có thể là vì chở đến bến thì gần hơn, và người “Chitanda-san” này có chuyện hệ trọng hơn cần làm.

Nếu phải đi tìm thì vẫn còn chút thắc mắc cần được giải đáp.

“Bà có nhớ Chitanda…-san mặc gì không ạ?”

Một lần nữa bà Yokote thì thầm: “Xem nào…”

“Đó là bộ đồ sẽ dùng để lên sân khấu. Áo thun trắng và váy đen. Một đôi giày cũng màu đen… và tất máu trắng. Cô bé còn mang một túi xách màu kem nữa và… ồ, cây dù thì lại là màu đỏ huyết. Một lựa chọn kỳ lạ, ta nghĩ vậy.”

Nếu đó là trang phục trình diễn thì tôi tự hỏi cái áo khoác màu be của bà cô Danbayashi rốt cuộc đóng vai trò gì trong ban, hay là sẽ bị thay ra trước khi bả lên sân khấu nữa. Mà kệ, ngoài hai thứ phụ kiện mang bên mình Chitanda cơ bản là “đơn sắc”. Tìm một người như vậy trong nhà văn hóa lúc này thì hơi khó, nhưng đứng ngoài đường thì nổi lắm.

“Vậy là bà với cậu ấy cùng lên xe buýt ạ?”

“Đúng rồi. Chỉ có hai người chúng ta thôi.”

“Đó là chuyến mấy giờ vậy ạ?”

“Là chuyến một giờ, không di không dịch khắc nào cả.”

“Và xe đến đây lúc mấy giờ ạ.”

“Khoảng một giờ rưỡi.”

Theo như Ibara thì Chitanda lẽ ra phải có mặt lúc một rưỡi, vậy là nhỏ đã lên đúng chuyến xe cần thiết để không bị trễ. Sớm hơn thì phạm vào giờ cơm và cũng chẳng lý do gì phải đi sớm cả. Tôi khâm phục cách bố trí giờ giấc của nhỏ.

“Rồi Chitanda cũng xuống xe tại đây phải không ạ?”

“Đúng thế.” Bà Yokote gật đầu rồi thêm vào: “Hai chúng ta đi cùng nhau tới tận phòng chờ nhưng rồi cô bé đã rời khỏi trước khi ta biết điều đó.”

Dù người đồng hành đã biến mất một cách kỳ bí nhưng bà Yokote vẫn yên vị như thể chỉ là chờ Chitanda quay lại. Tôi không biết tinh thần mạnh mẽ ấy là do đâu. Phải rải qua bao nhiêu mới có thể giữ được sự bình tĩnh trong một tình thế cấp bách như bây giờ.

“Bà có biết Chitanda có thể đã đi đâu không ạ?”

Bà Yokote đáp lại câu hỏi cuối cùng của tôi bằng nụ cười thật thanh bình.

“Ta chắc với cháu rằng cô bé ấy chỉ đang cần một chút khí trời cho qua cơn lo lắng mà thôi. Cháu đừng lo.”


4[sửa | sửa mã nguồn]

Rời khỏi phòng chờ, tôi có thể nghe những âm thanh huyên náo từ lối vào hội trường nơi Ibara đang tìm kiếm lần nữa. Thân là đến đây để “tìm” nhưng quả thật không còn nhiều thời gian. Chitanda có thể đi đâu và vì việc gì nhỉ? Nhìn thấy tôi đang đứng trước cửa phòng chờ, Ibara nheo mày một chút.

“Vẫn còn ở đó à?”

Rồi tiếp tục mà không cho tôi thời gian trả lời.

“Thế cũng tốt. Fuku-chan có gọi báo là cậu ấy chuẩn bị rời khỏi trường rồi hỏi là có cần giúp gì không. Tôi mới bảo là sẽ hỏi cậu rồi nói với cậu ấy sau.”

Quá tốt. Satoshi rất đáng tin cậy trong việc tìm kiếm thông tin.

“Vậy à…”

Nãy chúng tôi có đề cập tới Thư viện Thành phố và Vườn hoa Lâu Đài nên một phương án là nhờ Satoshi kiểm tra một trong hai nơi đó nhưng, thật lòng mà nói, điều đó chả khác nào đánh cược với một khả năng cực kỳ thấp vậy. Đồng hồ đã sắp điểm bốn giờ và chúng tôi nên cảm thấy lo là vừa. Không thể nào lãng phí nguồn nhân lực vào một tối kiến như vậy…

Một suy nghĩ từ nãy giờ vẫn quẩn quanh trong tâm trí tôi. Không dễ để định hình thành lời nói, tuy nhiên ít ra vẫn tốt hơn là bắt thằng bạn chí cốt chạy vòng vòng cả thành phố. Hy vọng quyết định này là sáng suốt.

“Bảo cậu ấy đến nhà ga.”

“Nhà ga Kamiyama à?”

Ibara nói mà như hét lên: “Rồi đến đó thì làm gì?”

Dĩ nhiên không phải bảo hắn đi chơi rồi.

“Không hẳn là nhà ga nữa. Tớ muốn Satoshi đến cái trạm xe buýt nối với nó ấy. Lấy một tấm bản đồ các lộ tuyến cùng thời gian biểu và mang đến đây.”

Ibara mở miệng chực muốn nói điều gì. Hẳn là muốn biết tại sao nhưng nghĩ một hồi nhỏ chỉ đơn giản mím môi một cái.

“Bản đồ lộ tuyến và thời gian biểu. Hiểu rồi.” Nhỏ gật đầu, “Rồi cậu ấy sẽ chuyển cho ông đúng không?”

“Tớ sẽ đợi ở lối vào. Khá đông nhưng chắc sẽ ổn thôi.”

“Được rồi.”

Liền lập tức Ibara rút điện thoại ra và chỉ vài giây sau đã kết nối với Satoshi. Nhỏ nhanh chóng truyền đạt lời nhắn của tôi rồi cúp máy. Vẫn cầm điện thoại trong tay nhỏ nhìn tôi và nói:

“Cậu ấy bảo mười lăm phút sau sẽ tới.”

Dù là đi từ trường Kamiyama thì đến đây cũng mất hơn khoảng đó, và chưa xét tới việc hắn thậm chí sẽ không được như vậy. Satoshi còn phải ghé qua trạm xe để lấy đồ nữa. Có lẽ “mười lăm phút” chỉ là diễn tả việc hắn sẽ gấp gáp thế nào thôi, chứ tôi thì chẳng dám tưởng tượng cảnh Satoshi vì mình mà xui xẻo gặp phải bất trắc trên đường…

“Cậu có thể nhắn tin bảo cậu ấy đừng chạy xe nhanh quá được không?”

“Ừ, ý hay đấy.”

“Giờ cậu sẽ làm gì?”

“Tôi chỉ mới tìm xong nửa khu nên giờ sẽ kiếm nốt nửa còn lại. Nếu cũng không thấy thì ra cái công viên gần đây thử… nói chung đừng lo cho tôi. Cứ làm việc cậu cần làm là được.”

Chẳng còn cách nào khác. Không có điện thoại nên xem ra tôi sẽ khó lòng mà thông báo với nhỏ nếu phát hiện được gì.

“Được rồi. Lát nữa gặp lại.”

Tôi để lại Ibara đang hý hoáy nhắn tin mà đi xuống tầng trệt.

Dù đã bắt đầu từ hai giờ nhưng không gian chỗ lối vào vẫn chật cứng. Rất nhiều nhóm đang tranh thủ luyện tập. Nhìn những dòng người tới tấp vào ra tôi đồ rằng nhiều người cũng chỉ đến để xem một hai tiết mục nhất định mà thôi. Đứng ngay trung tâm của thềm đá hoa dẫn vào hội trường, tôi tiện thể đảo mắt một cái để xác nhận rằng Chitanda không có ở đây.

Áo thun trắng và váy đen. Rất nhiều người sở hữu kiểu ăn mặc như vậy nhưng chả có cái mặt nào từa tựa nhỏ dù chỉ một chút. Mà… nếu có mặt ở đây thì nhỏ đã ba chân bốn cẳng quay về phòng chờ rồi chứ lo gì?

Tới lúc này tôi mới để ý một chồng tờ bướm được để trên bàn tiếp tân. Cũng cần cái gì giết thời gian trong lúc chờ Satoshi nên tôi lấy một tờ rồi bước ra ngoài. Đứng ở chỗ có lẽ là nổi nhất – ngay trước tấm biển “Liên hoan Hợp xướng Ejima”, tôi bắt đầu đọc.

Tờ bướm màu kem được in bằng giấy bóng. Thời điểm bắt đầu được ấn định rõ là hai giờ nhưng kết thúc thì không được đề cập. Có lẽ để thế thì ban tổ chức sẽ linh động hơn trong công tác bố trí chương trình hoặc giải quyết những tình huống không mong muốn. Tuy vậy, một ý nghĩ chợt thoáng qua tôi phê bình rằng làm vậy thì khách đến xem khó mà đặt bữa tối theo ý mình được.

Phần giành để giới thiệu tiết mục của các ban hợp xướng được viết khá nhỏ. Hầu hết đều trình diễn những tác phẩm của nhạc sỹ Sandou Ejima. Chưa từng nghe tới cái tên ấy tới khi Satoshi đề cập nhưng xem ra người này thuộc về một niên đại khá xa rồi. Những ca từ khá cổ. Tôi lướt qua một lượt và chỉ dừng lại ở nơi có bài hát sắp được nhóm của Chitanda – ban Hợp xướng Tổng hợp Kamiyama – trình diễn.

“Là đây à…”

Một bài hát mang tên “Phóng sanh chi nguyệt”

Tôi tự hỏi có ai từng nói với Ejima rằng nghe hệt như một tác phẩm của Rentarou Taki không nữa. Hơi chán ngán, tôi đọc một tua đến hết bài.


Phóng sanh chi nguyệt


Hót hay sao, hỡi loài chim trong lồng!

Nhưng ta ca ngợi, thứ gọi tự do,

Cõi niết bàn, thế giới này được đâu.

A! Ta lạy tạ. Ta tha thiết.

Được nằm dưới trời, bầu trời rộng thênh.

Bay đi nhé chim, lồng ta đã mở.

Duyên dáng sao, hỡi loài cá trong chậu!

Nhưng ta ca ngợi, thứ gọi tự do,

Cõi niết bàn, thế giới này được đâu.

A! Ta lạy tạ. Ta tha thiết.

Được nằm trên biển, biển rộng nghìn trùng.

Bơi đi nhé cá, chậu ta đã cạn.


“… Hiểu chết liền.”

Không may là tôi chả có chút thứ gọi là “cảm thụ văn học” cả, nhưng ít nhất cũng nên ghi trong đầu việc bài hát này nói tới cái gì cho chắc. Hình như ban còn biểu diễn thêm một tiết mục nữa nhưng ngoài cái tựa thì chẳng có thông tin nào khác… mà cũng không cần. Đó là một bản nhạc pop nổi tiếng – tới nỗi cả tôi cũng biết. Nội dung nói về việc mong muốn mọi người sống trong thanh bình hay đại loại vậy.

Cuộn tờ bướm lại rồi giữ bên tay phải, tôi bắt đầu gõ nó vào tay trái nhịp nhàng theo một giai điệu. Đầu óc mơ màng, tôi đưa mắt nhìn quang cảnh xung quanh. Bên ngoài cánh cửa bằng kiếng không có một vầng mây khiến nắng càng gay gắt. Một bà cụ vừa che dù vừa lau mồ hôi, rồi tự dưng cười tươi. Tôi tự hỏi điều kỳ quái nào đã khiến bà vui thì chợt nhận ra trong đây đang mở máy điều hòa. Tôi không nghĩ là sẽ mát đến vậy vì máy điều hòa được lắp đặt trên tận tầng ba, thậm chí những căn phòng tầng một nơi tôi đến lúc nãy còn chả cảm nhận thấy gì. Xem ra bên ngoài kinh khủng lắm.

“Hửm?”

Có một điểm đáng chú ý từ bà cụ đó.

Váy đen và áo thun trắng cùng một cái túi nhỏ đeo trên vai. Trừ lớp áo khoác xanh đậm thì đây cũng là cách ăn bận của Chitanda. Có vẻ bà không phải là khách mà cũng là thành viên của một ban hợp xướng nào đó.


Váy, áo thun, áo khoác, túi đeo vai, dù che nắng. Máy điều hòa… và một nụ cười.


“Ồ!”

Đúng rồi.

“Cây dù che nắng.”


Cạnh lối vào nhà Văn hóa là những chiếc dù được dựng sát vào nhau. Chỗ tường bao ngoài hội trường cũng được bố trí những cái giá để dù– có lẽ vì chỗ lối vào khó mà giữ được một ngàn sáu trăm cây trong trường hợp tệ nhất. Thế nhưng bà cụ ấy lại vẫn cầm dù mà lên lầu.

Chợt nhận ra, tôi tiến về quầy lễ tân mà gặp lại chị gái lịch sự lúc nãy.

“Em cần tìm gì nữa phải không?” Chị hỏi.

“Hỏi câu này thì có hơi lạ, nhưng…”

“Không sao đâu. Chị sẽ giúp em hết sức có thể.”

Có nhìn kiểu gì thì tôi chẳng phải chỉ là một thằng nhóc sao? Có cần lịch sự đến như vậy không nhỉ? Lễ tân đúng là một nghề khó khăn.

“Thành viên trong ban hợp xướng không được để dù trên các giá cạnh lối vào phải không ạ?”

Tưởng như sẽ bị bối rối vì câu hỏi kỳ quặc này nhưng người lễ tân trả lời không chút do dự: “Đúng rồi em. Nhằm phục vụ tối đa nhu cầu để dù của khách mà ban tổ chức đã khuyến khích thành viên các ban hợp xướng để dù của mình trên các giá được cung cấp sẵn trong các phòng chờ.”

“Vâng, cám ơn chị nhiều lắm ạ.”

“Không sao đâu. Còn gì cần thắc mắc thì em cứ hỏi nhé.”

Một lời đáp quá lịch sự nữa. Tôi ngượng ngùng chẳng hiểu vì sao, rồi nhanh chóng rời khỏi quầy lễ tân. Thông tin vừa rồi đã giải thích hành động khi nãy của bà cụ.

“…”

Và như vậy, tôi đã tiến một bước gần hơn đến nơi Chitanda đang lưu lạc. Ít nhất thì không phải ở đó…

Hướng về lại tấm biển “Liên hoan Hợp xướng Ejima”, tôi quyết định suy nghĩ thêm chút trước khi một âm thanh to khỏe gọi tên mình.

“Ít nhất cũng nhìn về phía trước mà đi chứ Hatarou!”

Ngay nơi mà chỉ mới đây tôi đã đứng bây giờ là Satoshi, ướt nhẹp mồ hôi.

“Chào.”

Nói xong tôi nhìn đồng hồ. Bốn giờ mười bốn phút – thực sự là mười lăm phút tính từ lúc nói chuyện điện thoại với Ibara và đó là đã được nhắn rằng đừng đi nhanh quá.

“Nhanh kinh dị.”

“Thế sao? Cơ mà đồ cậu cần đây.”

Trong tay hắn là thời gian biểu và bản đồ lộ tuyến xe buýt được in giấy bóng và gấp gọn gàng.

“Xin lỗi, làm phiền cậu quá.”

“Không có chi, chuyện cỏn con cả.”

Sau lời đùa, biểu cảm hắn chuyển sang nghiêm túc.

“Tớ được Ibara báo tình hình rồi. Chitanda mất tích à?”

“Có lẽ vậy.”

“Không thấy cậu ấy ở trường mà giày cũng không có trong tủ. Kỳ này căng rồi đây.”

“Ừ.”

Tôi đáp cho có vì bận tập trung vào bản đồ.

“Chitanda-san đang ở đâu đó trong thành phố và không có điện thoại. Ừ thì tớ cũng biết một hai nơi nhưng giờ không còn kịp để kiểm tra từng nơi một nữa… nói chung là tớ đang bó tay Houtarou ạ.”

Chưa đủ thông tin để tôi có thể hoàn toàn phân tích mọi thứ Satoshi mang đến. May thay, như dự đoán số lượng xe buýt chạy qua Jinde là không nhiều và dường như chỉ có một xe chạy vào lúc một giờ trưa. Gật đầu một cái tôi gấp tấm thời gian biểu lại.

Lấy tay lau bớt mồ hôi trên mặt, Satoshi tiếp tục:

“Với lại cũng thành thật xin lỗi… tớ có công chuyện nên có lẽ phải đi bây giờ. Nhưng thôi mà… Đó là Chitanda-san của chúng ta! Tớ nghĩ rằng rồi mọi chuyện cũng sẽ ổn… đúng không Houtarou? Chẳng phải cậu đã tìm ra nơi cậu ấy có thể đang ở sao?”

“Đại loại vậy.”

Nghe thế hai mắt Satoshi liền nở to. Có lẽ hắn không ngờ tôi có thể nói vậy.

“C-cái gì? Cậu thực sự biết rồi sao?”

“Cụ thể chính xác là nơi nào thì chưa… nhưng ý tưởng thì rồi. Ít nhất thì nó cũng khả quan.”

Tuy nhiên, nếu mọi suy luận là đúng thì vấn đề thực sự chỉ xảy ra sau khi đã tìm thấy nhỏ.

Kiểm tra đồng hồ, từ giờ tới giờ diễn còn một tiếng bốn mươi phút nữa.

Satoshi có cùng suy nghĩ với tôi. Nếu tìm kiếm theo kiểu vét từng ngóc ngách cái thành phố Kamiayama này thì cả tuần cũng chưa chắc là ra, mà lại hao phí năng lượng nữa. Cần một phương án hiệu quả hơn cả về mặt thời gian lẫn sức lực và nó dễ hơn là hắn đang tưởng tượng nhiều.

Nhưng mà…

“Thế rốt cuộc cậu sẽ làm gì?”

Hắn nhìn thẳng mà hỏi khiến tôi khó trả lời. Tôi sẽ không nói mình là loại thường hóng hớt chuyện người khác nghĩ về mình thế nào, nhưng để mà tự tin tuyên bố rằng: “Đó là điều chúng ta nên làm” trước khi mọi thứ được sáng tỏ thì… vẫn có khả năng là nó sai và lúc ấy chắc tôi sẽ ngượng chín cả mặt.

“Ờ thì… thực ra tớ cũng chưa chắc lắm.”

Đó là một câu trả lời yếu ớt. Sau đó tôi còn chuyển chủ đề một cách đầy gượng ép bằng một câu hỏi mà tôi nghĩ là… dù gì cũng phải hỏi.

“Cơ mà Sandou Ejima có thực sự nổi tiếng đến vậy không – tới mức được phong là một trong Tứ… gì đó thiên vương ấy?”

Hẳn Satoshi cũng nhận ra ý định đó, nhưng hắn trả lời mà không tỏ ra như thế.

“Có lẽ là tớ hơi làm quá, nhưng dù có loại bỏ tình yêu đối với âm nhạc truyền thống của tớ mà xét mọi thứ trên phương diện khách quan, thì vào thới đó những Hakushuu, Ujou… vẫn là hoàn toàn vượt trội về tài năng. Tớ thật sự nghĩ vậy.”

“Nghĩa là theo cậu thì sẽ là một sự làm quá nếu bảo việc truy hiệu đó… là làm quá?”

Satoshi chỉ nhún vai. Tôi bèn mở tờ bướm lúc nãy lấy ở quầy tiếp tân ra.

“Theo như trong đây thì Chitanda sẽ hát bài ‘Phóng sanh chi nguyệt’.”

“Vậy à?”

Satoshi nhìn lướt qua lời bài hát rồi gật gù với một biểu cảm thỏa mãn lạ thường.

“Cũng phải. Tớ vốn không biết bài này, nhưng đây đích thị là kiểu kinh điển của Sandou Ejima.”

“Tại sao lại gọi là ‘kiểu kinh điển’?”

“Nói thẳng ra là vì câu chữ cực kỳ mang tính giáo huấn.”

Đồng ý. Tôi gật đầu cái rụp trước khi kịp nhận ra. “Giáo huấn” là từ hoàn hảo để mô tả cảm nhận của tôi khi mới đọc qua lời bài hát.

“Đạo giữ hiếu, tính cần cù, lòng trung thực – những tác phẩm của ông luôn luôn được sáng tác để tôn vinh những giá trị đạo đức đó. Bản thân Sandou Ejima là một nhà sư, và có một lần tớ đã đọc ở đâu là chính lối sống tu hành đã khiến ông mang những tư tưởng và giáo lý đó vào trong từng lời ca. Có lẽ cũng vì vậy mà trong phạm vi những người biết đến thì ông khá là được mến mộ.”

“Và chúng ta thậm chí còn có cả một liên hoan văn nghệ lấy tên ổng.”

Hắn cười đáp lại, trông có vẻ giễu cợt.

“Các ban hợp xướng thường có những buổi diễn định kỳ. Đó là truyền thông rồi. Với lại, khi tổ chức một sự kiện vào đó thì lẽ thường người ta sẽ thích gắn nó với một cái tên có vẻ hay hay. Tiện thể dùng làm chủ đề chung cho các tiết mục thì càng hay.”

Cứ đặt Satoshi vào vị trí ban tổ chức thì từ không hiểu sẽ thành hiểu ngay.

Satoshi nhìn đồng hồ rồi nhăn mặt.

“Tớ phải đi rồi. Thề luôn… chưa từng dính vô mớ rắc rối nào như lần này.”

Từ lời nói tôi biết hắn thực sự muốn giúp.

“Đừng lo cho tụi này nữa. Mà cậu phải làm cái gì?”

“Thực ra là…”

Nói là thực sự không có thời gian nhưng xem ra hắn sẽ chọn “phàn nàn”. Có vẻ cục tức đó lớn tới nỗi hắn rất muốn xả cho ai đó.

“Ông anh họ và vợ ổng tới chơi, nhưng thằng cháu mới phát bực.”

“Con của anh họ cậu là cháu cậu?”

“Ừ thì đúng ra phải gọi là ‘cháu họ’, nhưng với tớ cháu nào cũng là cháu.[27] Nó rất mê cờ shogi và lúc nào cũng bắt tớ chơi cùng.”

Tôi chưa từng nghĩ rằng Satoshi không chơi được cờ shogi – xét đến việc hắn luôn thích thử mọi thứ trên đời… Ấy khoan, đợi chút. Hắn thực ra là chơi giỏi đấy chứ. Nhớ không nhầm thì trong một dịp dã ngoại hồi sơ trung hắn đã tỉ thí với một tên bạn cùng lớp luôn huênh hoang với cái giải ba thành phố và thắng.

“Chơi với nó thì làm sao?”

“Cứ tớ thắng thì nó khóc và không ngừng đòi chơi lại tới khi nó thắng. Thậm chí nó còn bỏ bữa tối.”

“Khó chịu quá nhỉ.”

Satoshi lắc đầu.

“Nếu chỉ vậy thì tớ cũng chả phiền. Cố tình để nó thắng là xong.”

Tôi biết Satoshi từ hồi học sơ trung và chứng kiến cái thời mà với hắn chiến thắng là tất cả. Hắn sẽ tận dụng mọi lỗ hổng trong luật hoặc khiến trận đấu trở nên nhàm chán nhất có thể, chỉ cần nó kết thúc với thắng lợi thuộc về hắn. Nhưng rồi tôi cũng được chứng kiến cái phần đi ngược lại tôn chỉ bấy lâu trong Satoshi. Tất cả dường như chỉ chuyển biến trong một cái chớp mắt.

“Vậy vấn đề là gì?”

“Nếu không nói ‘Anh chịu thua’ thì nó sẽ kêu tớ là đồ hèn rồi đòi thảm sát các kiểu.”

Trong cờ shogi, một bên thua khi bị đưa vào tình thế mà vua sẽ bị ăn bất chấp đi nước nào đi nữa. Tuy nhiên trước khi điều đó xảy ra một bên vẫn có thể tuyên bố thua cuộc và đó là cách tôi thường thấy nhất.

“Vì tớ chỉ thua để làm nó vui. Chiếu bí vua là chưa đủ, nó sẽ không tha cho tớ nếu chỉ nói ‘Em thắng rồi’ hay ‘Em thắng anh rồi đấy’. Ừ thì cũng là chiếu bí rồi mà, có gì để nói đâu.”

“Cậu thực sự ghét nói câu ‘Anh chịu thua’ đến vậy à?”

Gương mặt của Satoshi chuyển sang một biểu cảm đau khổ.

“Tớ không thể không nghĩ tới việc sẽ nói với nó là: ‘Tại sao em không thử bắt anh nói câu nói bằng việc thực sự đánh bại anh bằng chính kỹ năng của mình nào?’ Tớ thực sự rất dở trong việc nói những điều mình không tin là thật. Cũng có thể thằng bé chỉ là ngây thơ và tớ quá khắt khe về cách dùng từ nhưng… tớ cũng chả biết nữa. Xem ra tớ vẫn là một đứa chưa trưởng thành.”

Đây thực tình không phải kiểu chủ đề nên mang ra bàn luận giữa lúc dầu sôi lửa bỏng thế này, tuy vậy trong tôi vẫn có sự đồng cảm tới mức phải cười nhạt một cái.

“Tớ hoàn toàn hiểu. Hồi đó có lần dự đám cưới của người thân, rồi…”

Đó là một đám cưới mang phong cách Công giáo. Tôi đã vào nhà thờ với bộ đồng phục cứng cổ mà nghe Đức Cha giảng đạo.

Hừm…

Tự dưng tôi cảm thấy có gì cứ cay cáy trên đầu lưỡi. Không thể diễn tả bằng lời, và ngay khi thử chạm một ngón tay vào lưỡi cái ý nghĩ ấy liền đến và đi như cơn sóng vỗ bờ rồi phải trôi ngược về biển. Đó là gì? Tôi tự hỏi. Tại sao một ván cờ shogi và một lễ cưới lại mang đến rồi lấy đi thứ cảm giác sống động ấy?

“Thôi tớ đi nhé Houtarou.”

Âm thanh của Satoshi đưa tôi trở về thực tại.

“Hả? Ừ, đi đường cẩn thận.”

“Tớ mong cậu tìm được Chitanda. Rất xin lỗi vì những lúc thế này lại chẳng giúp được gì.”

“Sẽ ổn thôi mà.”

Vẫn đang trong giai đoạn tập hợp các manh mối nhưng tôi quyết định thêm vào:

“Để đó cho tớ.”

Satoshi tròn xoe mắt. Đoạn hắn cười nhẹ.

“Hiểu rồi. Tớ sẽ để cậu lo. Dù sao tớ vẫn luôn nghĩ người hiểu thấu được Chitanda từ đầu đến cuối cũng chỉ là cậu.”


5[sửa | sửa mã nguồn]

Tôi trở về phòng chờ A7 nhưng không thấy sự hiện diện của Ibara. Có lẽ nhỏ đang tìm kiếm những nơi xung quanh nhà văn hóa như đã nói. Tọa lạc tại trung tâm căn phòng rộng cỡ hai mươi mét vuông là một chiếc ghế xếp được an tọa bởi bà cụ Yokote. Bà cô tên Danyabashi cũng ở đó – ngay cạnh cửa sổ – và cứ như thể đang trừng mắt nhìn tôi đi vào, nhưng ngay khi nhận ra cô chỉ thả lỏng hai vai mà ra điều thất vọng.

“Tưởng là tới rồi chứ.”

Tôi cúi đầu nửa chào nửa muốn xin lỗi vì đã không phải là Chitanda. Tuy vậy bà cô ấy không thèm quẳng cho một cái nhìn nào nữa mà bắt đầu quay sang bà Yokote.

“Thế đấy bà Yokote ạ. Một tiếng nữa của bà đấy. Tôi sẽ gọi điện thoại. Con bé có thể không còn kịp và nếu chúng ta còn tần ngần trong việc chọn người hát solo thay thế thì chẳng còn buổi biểu diễn nào nữa.”

Trong chiều hôm nay, dường như tất cả những lời tôi nghe được từ bà cô này luôn ám chỉ một sự xách mé nhất định đối với “lũ trẻ ngày nay”. Có gạt sạch những xúc cảm tiêu cực đi nữa tôi ngờ rằng hai con mắt trợn ngược và tí hin như mắt cá kia vẫn đủ khả năng giữ lại nét đáng sợ trên gương mặt. Cũng phải thông cảm, thời gian đã gấp gáp lắm rồi.

Còn bà cụ Yokote thì vẫn vậy, không-chút-lo-âu khi trả lời:

“Tôi hiểu, nhưng chắc chắn cô bé sẽ đến vào bất kỳ lúc nào. Tại sao chúng ta không thử chờ thêm một tiếng nữa?”

“Lại nữa! Nghe này, bây giờ không còn là lúc có thể thử và sai bà Yokote ạ. Tôi sẽ gọi cho nhà Chitanda và xin bà hãy cho tôi số điện thoại của họ.”

Ra vậy. Nãy giờ tôi đã không hiểu nếu muốn thì cần gì bà cô Danbayashi phải xin ý kiến của bà cụ Yokote làm gì, nhưng xem ra là vì không có số. Cơ mà họ Chitanda cũng thuộc loại hiếm nên tìm trong sách danh bạ đâu có khó? Chỉ là – à chết rồi! Vậy là tôi có thể cũng sẽ bị nhắm tới mất!

Lúc nhận ra thì đã quá trễ. Vừa định quay đi tôi đã lọt vào tầm ngắm. Bà cô Danbayashi nhanh chóng bước về phía tôi với những nếp gấp khủng khiếp đang hằn lên trán.

“Cháu! Cháu là bạn cùng lớp với con bé đúng không?”

Thôi thì chối được gì cứ chối vậy.

“Không phải cùng lớp ạ. Tụi cháu là bạn khác lớp.”

“Thì làm sao?”

“Dạ, thì…”

Đúng là thông tin ấy chả đáng để ai quan tâm cả.

“Vậy hẳn là cháu biết số điện thoại nhà Chitanda đúng không?”

Vô thế rồi. Cơ mà hay ở chỗ, phòng việc cần liên lạc với nhau về hoạt động của CLB chúng tôi đều trao đổi số điện thoại nhà nhưng tại thời điểm này tôi lại quên béng. Nhờ vậy câu trả lời này là rất thực thà.

“Cháu có số, nhưng để ở nhà mất rồi ạ.”

“Bộ không có di động à?”

“Dạ không ạ.”

Cô Danbayashi rít lên.

Đùa thật hả trời!”

Có đùa đâu? Nhưng đúng là nên nói thêm cái gì để tránh một trận lôi đình. Không có thời gian để lãng phí nữa, nghĩ vậy tôi trưng ra bộ mặt nghiêm trọng nhất có thể mà lên tiếng… quả là chỉ cần cố gắng là tôi có thể làm bộ một cách rất điêu luyện.

“Thực ra cháu đã biết Chitanda ở đâu rồi ạ. Do quá lo lắng mà cậu ấy bị đau bao tử nên cần nghỉ một lúc.”

Hám dưới của bà cô Danbayashi như muốn rớt ra với câu trả lời như từ trên trời rơi xuống này.

“Cháu biết rằng mọi người đều lo lắng vì cậu ấy chưa có mặt ở đây nhưng hãy tin cháu – cậu ấy sẽ đến đúng giờ. Cháu sắp đi gọi cậu ấy nên cô không cần phải tìm nữa đâu ạ.”

Với việc “tự dưng” liên lạc được nhau trong khi chả đứa nào có điện thoại là một câu chuyện mà đứa con nít cũng có thể nghi ngờ, nhưng may sao cô Danbayashi thì không như thế… đúng hơn là thần thái bà cô trở nên nhẹ nhõm hẳn. Mọi biểu cảm khắc nghiệt như đều tan chảy, cô chỉ đáp gọn lỏn: “Ồ ra vậy. Thế thì nhờ cháu nhé.” rồi nhanh chân bước về phía cửa – có lẽ cũng vì ngượng với thái độ nóng nảy vừa rồi.

Dù cực kỳ mong bả đi dùm nhưng có một thứ tôi cần phải hỏi. Thế là tôi lên tiếng khi bà cô Danbayashi vừa chạm vào tay nắm.

“Dạ thưa cô…”

“Hả?” Giật mình, cô quay người lại rồi tiếp tục: “Cháu mới gọi ta à? Bộ còn gì nữa sao?”

“Dạ. Không quan trọng lắm ạ, nhưng…”

Vừa nói tôi vừa rút ra tờ bướm rồi chỉ vào lời bài hát sẽ được trình diễn bởi Chitanda – “Phóng sanh chi nguyệt”.

“Chitanda sẽ hát solo ở đoạn nào ạ?”

Bà cô Danbayashi nhướn mày.

“Hả? Sao cháu lại cần biết cái đó?”

Tôi đã nghĩ là cứ hỏi với một thái độ “thờ ơ” thì sẽ dễ nhận được câu trả lời hơn, nhưng trái lại bà cô này lại trông có vẻ vừa gia cố hàng phòng ngự.

“Dạ thưa cô…” Tôi nói với tốc độ đủ chậm cho tới khi trong đầu lóe lên một sáng kiến.

“… Vì cháu muốn chụp một tấm hình lúc Chitanda hát solo để lưu vào tập ảnh của CLB ạ. Nếu biết chính xác thời điểm thì vẫn tốt hơn. Cháu cũng tính lát nữa gặp sẽ hỏi nhưng giờ đã có cô ở đây…”

Chẳng biết có hơi quá lời không nhỉ?

“Thế à? Ờ được.”

Dính câu rồi. Bà cô Danbayashi lấy ngón tay rà trên từng dòng rồi dừng lại.

“Ừm… ngay đây.”


A! Ta lạy tạ. Ta tha thiết.

Được nằm dưới trời, bầu trời rộng thênh.


“Đoạn này phải lấy hơi từ ngực thì âm mới đầy và tăng tính biểu cảm. Ta nghĩ nếu quay phim cả đoạn thì sẽ hay hơn.”

Nói xong có cảm giác bà cô này đang đanh mặt mà nhìn quanh người tôi. Hẳn là chả có một cái máy quay hay máy ảnh nào ở đây cả. Trước khi bị nghi ngờ tôi cần phải chủ động.

“Cám ơn cô nhiều. Cháu sẽ nói với Ibara.”

Dĩ nhiên là Ibara cũng đâu có, nhưng lúc này thì ông trời mới kiểm chứng được.

“Ừ… vậy thì tốt. Được rồi, ta sẽ quay lại sảnh để nói với mọi người là đã tìm ra con bé. Còn lại thì nhờ mấy đứa.”

Cánh cửa đóng cái rầm khi bà cô Danbayashi đi ra, để lại tôi và bà cụ Yokote là hai người duy nhất trong phòng. Không gian rộng rãi quá mức này khiến tôi cảm thấy lạ lẩm một cách khó chịu.

Bà Yokote thì, dường như không dời lấy một tấc trong suốt khoảng thời gian tôi nói chuyện với Satoshi, vẫn ngồi với tư thế hai tay đặt trên đùi. Điều này khiến tôi liên tưởng tới một cái cây già cỗi đã bám chặt rễ vào lòng đất. Tuy vậy, ngay lúc này đôi mắt dịu dàng của bà đang nhìn tôi như yêu cầu giải thích những chuyện vừa xảy ra. Tiến tói trước ánh nhìn ấy, tôi khẽ cúi đầu chào rồi nói:

“Cháu xin lỗi vì nãy giờ chưa giới thiệu. Cháu là Oreki Houtarou, cùng khối lớp với bạn Chitanda-san và cũng chung CLB ạ.”

Trong một khắc bà Yokote như muốn tránh phải nhìn thẳng, nhưng lập tức chuyển thành một nụ cười rất khẽ khi bà cúi đầu.

“Rất vui vì được gặp cháu. Tên của ta là Atsuko Yokote. Thứ lỗi cho ta không đứng lên để chào cho phải phép nhé, hai đầu gối này không được như xưa nữa.”

“Dạ không đâu ạ.”

“Cám ơn cháu.”

Dù chỉ là phép xã giao nhưng những ngôn từ ấm áp ấy cũng khiến tôi thoải mái. Bà Yokote tiếp tục nói, nhưng lần này mắt bà nheo lại còn trong giọng thì có sự gượng gạo như muốn buộc tội.

“Oreki-san, nãy cháu có nói là biết con gái nhà Chitanda ở đâu nhỉ? Điều đó là thật chứ?”

Tôi đáp không chút ngần ngừ: “Dạ không. Đó là nói dối.”

Tính mở miệng nhưng rồi lại khép vào, trông bà cụ như không tìm được lời lẽ nào. Nhỉn thẳng vào tôi, bà thì thầm: “Nói dối à…”

“Cháu cần cô Danbayashi rời khỏi đây nên phải nói dối ạ.”

“Ồ. Nhưng tại sao lại cháu lại làm thế?”

Rõ là bối rối trước việc tôi ngang nhiên thừa nhận mình nói xạo nhưng bà Yokote không tỏ ra muốn trách mắng điều gì. Hay nói đúng hơn… cứ như là bà cảm thấy không có cái quyền đó vậy.

“Cháu làm vậy vì có chuyện muốn hỏi riêng bà ạ.”

“Ta ư? Là chuyện gì vậy?”

Liếc nhanh qua đồng hồ tôi nhận ra hai chiếc kim đã gần chỉ bốn giờ hai mươi. Không nên vòng vo nữa. Đã làm thì phải làm cho nhanh. Phương châm này là thứ luôn bắt tôi đi thẳng vào vấn đề mỗi khi cần thiết.

“Bà nói là đã đi cùng chuyến xe với Chitanda và hai người đã cùng nhau tới tận căn phòng này phải không ạ?”

“Đúng vậy.”

Buộc tội ai đó là một công việc cần có tinh thần thép. Tôi không được như vậy, nên chỉ nói mà không dám nhìn.

“Cháu không nghĩ đó là sự thật ạ.”

Sắc diện của bà Yokote như đóng băng.

Cái cách mà, như tôi đã nói – đơn giản hơn nhiều so với Satoshi đang trăn trở – là hỏi thẳng người duy nhất có thể biết. Không nghi ngờ gì nữa bà Yokote đã nói dối về việc Chitanda đã đến đây. Bà ấy biết sự tình và nội dung của nó sẽ có ích hơn là lùng sục mọi thư viện hay quán cà phê khắp thành phố Kamiyama này.

Tới lượt hai tay bà, dù vẫn yên vị trên đùi nhưng trông căng cứng một cách đầy lo lắng. Tôi chỉ có thể tiếp tục màn truy vấn nếu bà cũng muốn vậy nhưng đó là trường hợp lý tưởng. Dù gì thì tôi cũng chỉ là người lạ, và chẳng ngạc nhiên khi bà tỏ ra không biết gì.

“Cháu đang nói gì vậy?”

Nhanh chóng quên nỗi thất vọng thì điều kiện lý tưởng đã không còn, tôi đành phải cố gắng.

“Cháu muốn giải quyết chuyện này càng sớm càng tốt ạ, nên xin bà hãy rút lại lời khẳng định rằng đã đi chung với Chitanda tới tận đây.

“Nhưng đó là sự thật cơ mà. Sao cháu có thể nói những lời như vậy? Cháu không nghĩ thế là khiếm nhã sao?”

Cuộc chạm trán trực tiếp này ngày càng khiến tâm lý tôi bất ổn. Thuyết phục và thương lượng chưa bao giờ là thế mạnh, và thường thì những lúc như thế nếu có cơ hội tôi đều đẩy cho Satoshi và Chitanda mà rúc về cuộc sống yên tĩnh của mình. Nhưng lúc này tôi chỉ có một mình và thời gian thì không biết chậm lại. Nắm chặt hai bàn tay, tôi huy động mọi dũng khí của mình.

“Cháu thành thật xin lỗi, nhưng vốn dĩ việc Chitanda đã cùng đi vào căn phòng này là chuyện không thể ạ.”

“Cháu có thể giải thích vì sao không?”

“Vâng, thực ra nó cũng rất đơn giản…”

Tôi chỉ tay về phía cánh cửa mà tiếp tục:

“Nhờ cái đó.”

“Cánh cửa à?”

“Dạ không. Cháu muốn nói với cái giá ạ.”

Cạnh cánh cửa bấy giờ vẫn là cái giá dù không chắc chắn với một cây dù màu đen. Trong lần đầu bước vào đây tôi đã bị vấp vào mà làm đổ nó, rồi khi nhặt cây dù lên tôi nhận ra tay mình bị ướt.

“Gần nhà cháu không có mưa, nhưng dựa vào việc cây dù bị ướt cháu đoán rằng ở Jinde có mưa.”

“Ta tin là mình đã đề cập chuyện này rồi.”

“Vâng ạ, cả điều đó lẫn việc Chitanda đã che một cây dù màu đỏ huyết khi chờ xe đến. Nhưng từ lúc cháu đến đến giờ trong phòng không hề có cây dù đó. Đúng là sáng nay trời có hơi âm u ở vùng này nhưng tới trưa, cụ thể là một giờ ba mươi nếu Chitanda đi xe đến đây, thì trời chỉ mới vừa nắng. Cháu không nghĩ ra lý do gì khiến cậu ấy phải mang theo dù nếu chỉ muốn tạm thời đi đâu một chút cả. Như vậy Chitanda đã không tới đây và đó là mâu thuẫn trong lời nói của bà ạ.”

Bà Yokote đặt một tay lên má và nói:

“Làm sao cháu có thể kết luận như vậy chỉ vì con gái nhà Chitanda không để dù ở đây? Khi mà phòng này không phải là nơi duy nhất có giá dù?”

“Dĩ nhiên những cái giá cũng được bố trí ở gần lối vào, nhưng thành viên ban hợp xướng được khuyến khích để dù trong các phòng chờ phải không ạ?”

“Và đó chỉ là ‘khuyến khích’.”

Tôi biết người ta đôi khi không phải cứ muốn theo luật là được. Thực ra hiểu hết và theo hết mọi luật mới là bất thường.

“Dạ vâng. Nếu Chitanda một mình đến đây thì hoàn toàn có khả năng cậu ấy sẽ không biết quy định mà để dù ở một cái giá khác. Nhưng thực tế đâu phải vậy phải không ạ? Cháu đang tưởng tượng đây – cảnh bà cùng Chitanda đi lên lầu rồi vào căn phòng này, và trong khi bà nghiêm túc chấp hành quy định thì cậu ấy lại phớt lờ. Đấy, quá vô lý phải không ạ? Người trong nhóm thường có xu hướng đặt đồ chung ở một chỗ. Và hơn hết cháu nghĩ rằng bà biết Chitanda gương mẫu thế nào phải không ạ?” Bà Yokote không trả lời, và cảm giác lo sợ rằng sẽ không có được câu trả lời vẫn tồn tại trong tâm trí tôi. Tuy vậy cũng nên làm dịu tình hình một chút.

“Nhưng dù là vậy cháu cũng không đủ bằng chứng để chứng minh rằng Chitanda chưa hề đến đây. Cũng có thể cậu ấy thực sự đã đến nhưng lại quyết định quay về mà không tính trở lại. Trong trường hợp đó thì mang dù theo là đương nhiên. Dễ để tìm manh mối chứng minh rằng ai đó đã ở đây hơn là họ đã không ở đây ạ.”

“Ta cũng nghĩ vậy.”

Hít thở một hơi. Lúc này tuy không nhìn thẳng nhưng tôi vẫn để bà ở một bên khóe mắt.

“Cho cháu hỏi là… từ lúc đến đây tới giờ bà chỉ ngồi ở đây thôi phải không ạ?” Tôi chuyển chủ đề.

“Dù cho tất cà thành viên còn lại đều ở trong hội trường ạ?”

Bà Yokote hơi nheo mắt lại.

“Thế thì đâu có gì lạ?”

“Vâng ạ. Nhưng có một vấn đề nãy giờ cứ canh cánh trong đầu cháu. Đó là việc bà đã luôn lặp lại một lời kỳ lạ mỗi khi cô Danbayashi đề cập đến việc liên lạc với gia đình Chitanda, bắt đầu bằng: ‘Tôi chắc rằng cháu nó sẽ tới ngay…’ “

“Cách dùng từ của ta có gì kỳ lạ sao?”

Tôi lắc đầu.

“Dạ không. Cháu không nghĩ câu này có gì đặc biệt.”

“Vậy thì ta chẳng thấy…”

“Cái kỳ lạ nằm ở đoạn ngay sau đó, nguyên văn là: ‘Hãy cho cháu nó một tiếng nữa mà đừng trách mắng tội nghiệp.’ Tại sao lại là ‘một tiếng nữa’ mà không phải ‘một chút nữa’ hay ‘chút thời gian nữa’? Dù chỉ được nghe hai lần nhưng dựa vào lời cô Danbayashi cháu đồ rằng trước đó có một lần bà cũng nói như vậy. Không phải ba mươi phút hay hai tiếng, tại sao lại phải là một tiếng ạ?”

Tôi cũng nghĩ tới khả năng đó chỉ là thói quen nói chuyện, nhưng thực tế có một khả năng thú vị hơn và nhờ sự trợ giúp của Satoshi tôi đã đan kết được chuỗi suy luận. Cái “một tiếng” mà bà đề cập tới ba lần xem ra mang một ý nghĩa quan trọng hơn nhiều.

“Phải chăng vì bà đang ám chỉ tới khoảng dãn cách giữa các chuyến xe?”

Bà Yokote không đáp lại. Tôi có cảm giác đôi vai bà vừa đột ngột cứng đờ.

Lấy ra tấm thời gian biểu Satoshi đã đưa cho, tôi tiếp tục:

“Đây là thời gian biểu của trạm xe. Để có được cái này bạn cháu đã phải đạp xe thừa sống thiếu chết và may là không gặp bất trắc gì. Theo như trong đây thì không có nhiều chuyến xe nối giữa vùng Jinde và Nhà Văn hóa và mỗi chuyến đều cách nhau một tiếng, nên đó là lý do chúng ta phải ‘đợi một tiếng’ phải không ạ?”

Bà Yokote liền quay mặt đi. Vậy là đúng rồi.

Một tiếng nữa cũng là thêm một chuyến nữa, và con gái nhà Chitanda sẽ ở trên đó. Xin lỗi nhưng cháu đồ rằng đó là điều bà đã hy vọng khi nói vậy với cô Danbayashi nhằm khiến cô ấy bình tĩnh trở lại.”

Nhưng ba tiếng đã trôi qua mà Chitanda vẫn không quay lại. Tôi từng cảm thấy khâm phục sự điềm tĩnh của bà Yokote nhưng giờ đây nó chỉ còn là vỏ bọc, để che dấu con người bên trong có lẽ cũng cảm thấy sốt ruột.

Dựa vào cuộc trò chuyện này, ít ra phạm vi tìm kiếm Chitanda đã được thu hẹp.

“Chitanda vẫn còn ở Jinde phải không ạ?”

Đây là đòn quyết định. Lúc này trông bà Yokote đã tỏ ra bối rối và lo sợ. Dáo dác nhìn xung quanh một hồi, cuối cùng bà cũng hít thở sâu rồi lên tiếng.

“Đúng vậy, con gái nhà Chitanda đã không đến đây. Xin lỗi vì đã lừa dối cháu.”


Nụ cười hiền hậu đã trở lại trên gương mặt bà khi câu chuyện thực tế được kể ra.

“Đúng như cháu nói, buổi sáng ở Jinde có mưa. Ta vẫn còn thành thật khi nói rằng con gái nhà Chitanda đã cùng ta che dù mà đợi xe đến. Hai người chúng ta cùng lên xe cũng là sự thật. Lúc đó không có ai nên ta và cô bé ngồi cạnh nhau. Thực tình thì từ lúc chờ xe ta đã để ý rằng cô bé dường như không được khỏe. Chỉ khi lên xe mà ngồi gần ta mới nhìn rõ thì… ôi thôi gương mặt cô bé xanh xao đến tội nghiệp. Ta có hỏi thăm nhưng đứa bé tội nghiệp ấy hết lần này đến lần khác chứ trấn an ta là vẫn rất khỏe mạnh. Rồi đột nhiên, khi ta còn tự hỏi rằng mình có thể làm gì thì cô bé đã bấm chuông để dừng xe lại.”

Cố hết sức giữ bình tĩnh tôi không chen vô một lời nào. Còn những thông tin khác cần được làm rõ nhưng tôi nghĩ im lặng mà lắng nghe là điều tối thiểu có thể làm cho người đang sẵn lòng chia sẻ câu chuyện của mình. Tuy nhiên lý do quan trọng nhất khiến tôi thiếu bình tĩnh là tình trạng hiện giờ của Chitanda. Chưa lấy một lần tôi biết đến một Chitanda “xanh xao đến tội nghiệp” là thế nào.

“Ta đã gọi trước khi cô bé kịp xuống xe và cô bé… dường muốn nói gì, nhưng rồi chỉ cúi đầu mà chạy đi. Ta đã nghĩ về việc sẽ đuổi theo, nhưng biết rằng mình không nên can hệ vào chuyện của người khác khiến ta chỉ ngồi đó và đến đây.”

Câu chuyện đến đây chắc là hết. Đây là lúc để hỏi.

“Có khi nào Chitanda bị bệnh không ạ?”

Bà chỉ đáp: “Ta cũng không biết nữa…”

Đúng là một câu hỏi vô nghĩa. Nếu chỉ là bị bệnh nhưng vẫn muốn biểu diễn thì nhỏ chỉ cần đến đây và thông báo cho mọi người biết – hoặc tiếp tục nghỉ ngơi ở nhà tới khi khỏe hơn thì hẵng đi. Nói chung dù là trường hợp nào thì nhỏ cũng không cần phải làm như thể mình đang chạy trốn như vậy.

Lý do Chitanda sớm xuống xe và lý do cho gương mặt xanh xao nhiều khả năng chẳng liên quan gì với vấn đề thể trạng. Đó là giả thuyết nhưng giờ tôi cần nhảy ngay vào hành động.

“Vậy Chitanda đã xuống ở điểm dừng nào ạ? Và bà có biết sau đó cậu ấy có thể đi đâu không ạ?”

Bà Yokote đáp lại câu hỏi của tôi bằng một cái nhìn lạnh lùng.

“Cháu sẽ làm gì nếu ta nói ra?”

“Dĩ nhiên là đến đó ạ.”

“Vô ích thôi.”

Ngồi thẳng lưng, bà nói những lời tiếp theo đầy nhát gừng.

“Đứa bé đó là người thừa kế của gia tộc Chitanda và nó hiểu rõ trách nhiệm của mình là gì. Hành động xuống xe khi nãy chỉ là khoảnh khắc của do dự, và ta có thừa lòng tin rằng cô bé sẽ kịp đến đây. Cũng vì vậy mà ta mong cháu đừng làm những điều không cần thiết mà tin tưởng hơn vào bạn của mình.”

Tôi gật đầu.

“Vâng, cháu luôn biết chắc rằng cậu ấy sẽ đến đây.”

Bà Yokote bấy giờ nhìn tôi như thể mọi xúc cảm mãnh liệt vừa rồi chưa từng tồn tại.

“Vậy thì tại sao cháu lại muốn đi tìm?”

Chẳng phải câu trả lời đã quá rõ ràng sao?

“Vì mọi thứ đều đã trở nên khó khăn với cậu ấy.”

Trở nên khó khăn ư?”

“Bà không thấy điều đó sao?”

Chẳng biết gì về vấn đề “thừa kế” hay cái gì cả, nhưng một điều tôi có thể chắc chắn là tinh thần trách nhiệm của Chitanda hết sức mạnh mẽ. Để phải chạy trốn như vậy chứng tỏ vấn đề nhỏ đang mang hiện nay là nghiêm trọng và tôi sẽ không chấp nhận một lý do như là “một khoảnh khắc của do dự”. Dĩ nhiên, như bà cụ Yokote đã chỉ ra, nhỏ chắc chắn sẽ xuất hiện. Nhưng sự xuất hiện đó sẽ chỉ là kết quả của một sự mâu thuẫn – thứ mâu thuẫn đến ngạt thở đang tồn tại bên trong nhỏ và đang cố che đậy lý do khiến nhỏ phải chạy trốn. Tất cả đều vì hai chữ “trách nhiệm”. Hành động của nhỏ như muốn nói rằng “Mình muốn đi” nhưng không, nhỏ phải đến đây. Nhỏ-phải-đến-đây!

Chẳng phải điều đó là quá khó sao?

Mỗi khi bản thân bị dồn vào góc tường như thế, nhìn thấy ai đó giơ tay mà kéo tôi ra sẽ làm tôi vui mừng. Đơn giản là vậy thôi. Việc tìm ra Chitanda quan trọng hơn bất kỳ thứ gì bà Yokote có thể biết.

Nhưng… thay vì nói một tràng như vậy tôi chỉ đúc kết thành một câu:

“Vì đã là bạn thì phải giúp đỡ nhau ạ.”

Bà Yokote chỉ nhìn tôi mà không nói gì. Có lẽ bà đang đánh giá xem có thể tin được bao nhiêu trong lời nói của tôi. Thực sự thì bây giờ đâu còn là lúc để nghi ngờ nhau nữa?

“Dù sao thì… vì muốn gặp Chitanda đầu tiên khi cậu ấy quay lại là lý do bà vẫn ngồi đợi ở đây phải không ạ?”

Bà Yokote dường như đã dao động.

“Bà muốn gặp cậu ấy ở đây, còn tụi cháu thì muốn gặp cậu ấy ở Jinde. Như thế chẳng phải bà và cháu có chung một mục đích sao? Như vậy đã là đủ chưa ạ? Bà sẽ nói cho cháu biết rằng cậu ấy đang ở đâu chứ ạ?”

“ ‘Tụi cháu” là gồm những ai nào?”

Hở, à ừ…

“Ibara cũng đang rất lo lắng ạ. Có lẽ sẽ tốt hơn nếu cậu ấy cùng đi và tìm thấy Chitanda. Kể cả bây giờ cậu ấy cũng đang chạy đôn chạy đáo để tìm kiếm nên có hơi khó để liên lạc… nói chung cháu cũng không chắc vì không còn nhiều thời gian nữa. Bà cảm thấy thế là không hay ạ?”

“Không hề.”

Vì lý do nào đó, bà Yokote đưa tay lên miệng như muốn che đi môt nụ cười. Đặt lại tay lên đùi, bà trả lời đầy mạnh mẽ:

“Ta hiểu rồi. Cháu nói cũng có lý. Dù biết rằng đứa bé đó sẽ đến đấy nhưng ta cũng bắt đầu thấy lo rồi. Ta sẽ nói cho nói những gì ta biết.”

Tôi gật đầu.

‘Đứa bé đó xuống xe ở trạm dừng Nam Jinde. Đến đó, rồi đi về phía tay phải hướng lên đỉnh núi cháu sẽ thấy một cái nhà kho có tường được trát vữa. Nếu muốn tìm một nơi để trốn thì chỉ có thể là ở đó.”

Bà Yokote đã nói là có gọi Chitanda lại trước khi nhỏ rời khỏi xe, và như bình thường chiếc xe buýt sẽ nhanh chóng rời đi. Tôi không biết cái nhà kho đó nằm xa đường lộ cỡ nào nhưng nếu phải đi lên đỉnh núi thì có vẻ là xa và sâu đây. Đó cũng là điều tôi thấy hơi kỳ lạ: bà Yokote có lẽ chỉ có đủ thời gian để nhìn thấy Chitanda rời khỏi xe. Nếu chỉ nhìn được một chút thì làm sao có thể trả lời tự tin như vậy?

“Bà có thấy cậu ấy đi vào nhà kho đó không ạ?”

Bà Yokote lắc đầu.

“Ta không thấy, nhưng không cần thấy ta cũng biết.”

Bà nói rất nhẹ nhàng, như vừa nhớ lại một ký ức dịu dàng nào đó của ngày xưa.

“Cái nhà kho đó thuộc về gia đình ta nhưng lâu rồi không dùng tới nữa. Hồi còn nhỏ xíu đứa bé ấy thường đến đó để trốn những người khác.”

Tôi đã nghĩ rằng bà Yokote thuộc kiểu hàng xóm thân thiết, nhưng nếu Chitanda có thể tùy nghi sử dụng cái nhà kho làm nơi trú ẩn thì có lẽ còn hơn thế.

“Bà Yokote có họ hàng với Chitanda phải không ạ?”

“Ta là cô của đứa bé ấy. Hôm nay sẽ có người bên nhà Chitanda vì công chuyện mà qua lại gần đó, nên để tránh những cặp mắt tò mò cháu không được đi thẳng vào nhà kho. Đầu tiên hãy đến căn nhà bao quanh bởi bờ giậu với tấm biển đề là “Nhà Yokote”. Đi qua khỏi bờ giậu luôn rồi đánh một vòng trở về phía sau nhà kho. Không có ai ở nhà vào lúc này cả, nhưng lỡ có và họ hỏi tại sao cháu ở đó thì cứ nói là ta nhờ cháu lấy đồ để quên. Thế thôi, cháu hãy nhanh lên.”

Nói xong bà giơ tay mà chỉ về cánh cửa sắt.


6[sửa | sửa mã nguồn]

Jinde là một vùng được bao quanh bởi đối và núi ở phía đông phía thành phố Kamiyama. Trên phương diện pháp lý thì nơi này vẫn được xem là một quận của thành phố, nhưng thực tế hai vùng chỉ nối với nhau bằng những con đường gồ ghề nhỏ hẹp. Dân cư hai bên cũng ít khi tiếp xúc. Nói thế nhưng không có nghĩa Jinde quá tách biệt so với phần còn lại và việc Chitanda từ nhà đến trường mỗi ngày là một ví dụ. Lên và xuống những con dốc thực sự là một cực hình dù đạp xe thì chậm lắm cũng chỉ ba mươi phút là đi hết cả chặng. Đồng hồ lúc này đã chỉ bốn giờ ba mươi. Phải khởi hành thôi!

Bước ra khỏi Nhà văn hóa, tôi vừa định đi lấy xe thì một chiếc xe buýt đã xuất hiện và mở cửa cứ như đoàn hộ tống đến đón một tài tử nào đó. Tôi ngây ra, chân tay thì cứng ngắc như một con hươu bất ngờ bị đèn pha chiếu thẳng mặt. Không chỉ ở việc xe buýt thì chắc chắn nhanh hơn xe đạp mà nếu đi bằng xe buýt thì khỏi mắc công đi tìm đâu là điểm dừng Nam Jinde. Gặp ngay một chiếc xe buýt cứ phải một tiếng mới có một lần ngay lúc mình cần nó nhất – điều may mắn kinh khủng gì thế kia? Hay đó là bẫy? Ồ, cũng có thể là bẫy thật! Lỡ như nó hướng về nơi khác thì sao? Lỡ như tôi cả tin mà leo lên rồi nhận ra nhìn đang đi về hướng ngược lại thì sao? Và quan trọng là sẽ mất bao lâu để tôi có thể nhận ra rằng mình đã đi lộn? Cố gắng kiếm tấm biển đề tên trạm dừng, tôi thở phào một cái trước dòng chữ “Hướng về Jinde”.

“À, ừ rồi. Lên thôi.”

Không cần tính tới cú sốc hồi nãy thì tâm trí tôi lúc này đang chạy loạn lên rồi. Không nhận ra điều đó rốt cuộc tôi đã hô lên rất to lời vừa rồi với tài xế. Leo lên xe rồi ngồi vào ghế, tôi thở dài một cái thượt. Âm thanh của một thứ như là xi-lanh xì hơi vang lên khi cánh cửa từ từ đóng lại.

“Xe sẽ bắt đầu đi.”

Cỗ máy bốn bánh từ từ chuyển động sau lời thông báo. Đây là loại xe buýt mà khách tới nơi mới trả tiền.

Tôi vốn định xách xe đi tìm Ibara trước rồi mới đến Jinde nhưng chuyến xe bất ngờ này đã khiến kế hoạch thay đổi. “Đừng trễ xe buýt!” Tôi nhớ lại lời của người biên tập viên trong một chương trình ti-vi từng xem. Không biết mình có tiền không nhỉ. Tôi chắc rằng mình có mang ví. Lục tìm trong túi rồi lấy ví ra, tôi nhẹ nhõm khi thấy tờ một ngàn yên duy nhất. Ít ra thì cái viễn cảnh phải đi rửa chén để trả tiền xe buýt đã không còn dù rằng ý định mua cuốn truyện chữ đành phải bị dời lại. Chán thật, nhưng có lẽ đời là thế.

Có chưa đến mười người trong xe tính cả tôi. Phải một lúc sau khi rời khỏi Nhà Văn hóa chúng tôi mới đến khu dân cư với những căn nhà cổ, tất cả cũng là do kẹt xe vì đường ở đây rất hẹp. Tôi mơ màng nhìn ra ngoài cửa sổ với những khung cảnh quen thuộc thay nhau lướt qua: một hàng bánh kẹo với món yomogi dango[28] ngon tuyệt, một hàng sách với các ngăn trên cùng đều bỏ trống vì người chủ đã không còn với tới được, một cửa hiệu giặt là mà lúc tôi còn nhỏ từng bán vải may kimono, một cửa hàng tiện lợi không bán thuốc lá…

Điểm dừng tiếp theo được thông báo trên loa và ai đó đã bấm nút để đi xuống. Hai người xuống và một người lên. Điểm dừng kế tiếp cũng được thông báo. Vừa tính nhìn đồng hồ tôi đã ép mình quay mặt đi ngay. Dù có trăm phương vạn kế để đến với Chitanda nhưng tôi đã chọn cách này. Việc biết lượng thời gian còn lại trong tình cảnh mà có muốn cũng không làm gì hơn được chỉ tổ làm tôi thêm sợ hãi.

Rồi thì xe cũng bỏ lại khu dân cư mà tiếp tục băng qua một giao lộ có trạm xăng to bằng bốn chiếc máy bay tiêm kích ở một bên, trong khi bên còn lại là một tiệm bánh hamburger phục-vụ-tại-xe.[29] Tốc độ xe có phần được nhanh hơn khi qua hết đoạn đường vòng. Dựa cùi chỏ lên thành cửa sổ, tôi nhìn ra ngoài mà suy nghĩ thêm một chút…

Ban đầu bà Yokote gọi Chitanda là “con gái nhà Chitanda”, nhưng trò chuyện một hồi bà đã đổi cách xưng là “đứa bé”. Tôi không dám chắc điều gì nhưng có một cảm giác rằng bà đã cố không dùng từ “đứa bé” khi nói chuyện với bà cô Danyabashi. Vài người sẽ cho rằng đơn giản chỉ là bà muốn giữ tính lịch sự nhưng tôi thì nghĩ cách biểu đạt đó có ý nghĩa phức tạp hơn – đó là cách gọi mà bà không muốn để lộ cho người không thân thích biết.

Bà Yokote cũng gọi Chitanda là “con gái nhà Chitanda”, “người thừa kế nhà Chitanda” và rồi, chỉ khi sau tất cả, bà mới cho tôi biết quan hệ của hai người là cô ruột với cháu. Tôi chẳng biết chi tiết chuyện là như thế nào cũng như việc mình nó nên biết hay không, nhưng mỗi khi nghĩ về một Chitanda Eru mà mình biết – Hội trưởng CLB Cổ Điển trường Cao trung Kamiyama – bị bao vây trong những danh xưng ấy, tôi lại như phải chịu chứng say từ những con sóng không ngừng vỗ vào bầu tâm trí. Tôi cũng chẳng biết chính mình lúc này có đang bị bệnh không nữa.

Chitanda đã xuống xe trước khi đến nơi cần đến.

Tại sao nhỏ làm thế? Câu hỏi đó cứ lởn vởn trong đầu khi tôi không biết làm gì khác ngoài việc chờ cho xe đến trạm dừng mong muốn. Có những con đường khác nhau nối Jinde với thành phố Kamiyama, và lộ trình xe buýt đang đi cũng khác với đường tôi thường đi bằng xe đạp. Tự dưng tôi chột dạ mà nghĩ rằng xe bắt đầu đi sai hướng, rồi nhận ra rằng đây chỉ là một con đường song song mà nhẹ nhõm ngồi lại vào ghế. Tôi tiếp tục đợi.

Xe rốt cuộc cũng tiếp cận tới vùng núi. Lướt qua những mảng đồi trọc, con đường bắt đầu trở thành những cung quẹo gắt hết trái lại phải và cơ thể tôi cũng đành phải nương theo. Cảm giác choáng váng này hệt như lúc bị say trong hồ nước nóng nhà người thân Ibara vậy. Không biết có thật không chứ tôi từng nghe ở đâu rằng chứng say xe thực chất chỉ là do tâm lý không ổn định mà ra, vì vậy khi xe bắt đầu lên dốc tôi phát trong đầu bài hát “Tôi nào sợ say xe?” mà ngân nga theo giai điệu đó.

Âm thanh ầm ồ của việc phải chuyển động ở số nhỏ[30] từ từ dịu lại khi xe được đi trên đoạn thẳng. Chúng tôi dừng lại trước một cột đèn giao thông, thứ mà đã lâu rồi tôi không thấy, và ngay sau đó là tiếng thông báo bằng loa:

“Trạm kế tiếp là Nam Jinde. Trạm kế tiếp là Nam Jinde.”

Tôi nhấn nút để yêu cầu xuống trạm. Không lâu sau khi xe chuyển động lúc đèn xanh được bật, nó từ từ chậm lại rồi dừng. Cửa mở ra. Lần này là thông báo được phát từ chính miệng của tài xế bằng một giọng khàn đặc kỳ lạ: “Đã đến N… Nam Jinde.”

Trả tiền xong tôi xuống xe, và hành động tiếp theo là hít một hơi sâu. Nghĩ rằng mình vẫn ổn nhưng xem ra chắc là tôi còn say một chút. Không khí mát rượi thật dễ chịu. Sáng nay có mưa ở Jinde nhưng mặt đường lúc này đã không còn dấu vết của nước. Nắng tháng bảy không nhiều nhưng có lẽ đã đủ để hong khô những giọt mưa. Tuy vậy bấy giờ trên bầu trời chỉ toàn là mây đen. Mùi mưa cũng lan tỏa trong không khí. Thôi rồi, tôi không có mang dù.

Đảo mắt xung quanh tôi nhận ra con đường khi xe buýt đến đây được xây trên một triền dốc. Đất phía phải thì dốc lên, còn phía trái thì hướng xuống những thửa ruộng ánh lên màu xanh rạng rỡ của mùa hè. Đất không dùng trồng trọt ở đây không nhiều nên nhà dân cũng được xây cách xa nhau, mà tạo thành những chấm như trang trí thêm vào bức tranh phong cảnh. Không thể ước lượng khoảng cách thực sự nhưng bằng một cách nào đó tôi có thể chỉ ra con dốc sẽ còn lên cao hơn nữa, vượt qua những dãy đồi xanh thẫm là vùng núi Kamikakiuchi quanh năm tuyết phủ.

“Cái nhà kho…”

Vừa lẩm bẩm tôi vừa nhìn quanh lần nữa. Bà Yokote có bảo là cứ nhìn bên phải con đường, như vậy là nó sẽ ở trên đồi.

Đằng kia! Cứ sợ là nhiều nhưng hóa ra chỉ có một. Cũng không xa đây lắm. Từ nơi tôi đang đứng nửa dưới của nhà kho bị che khuất bởi một hàng rào bằng gỗ nhưng tôi vẫn nhận ra nhờ cái mái hình tam giác và tường rõ là được trét vữa trắng, cùng một cặp cửa đôi trên tầng hai nhằm mục đích thông gió và hướng ánh sáng vào trong. Chẳng có nhà nào bao quanh nó cả. Cái nhà kho cứ trơ trọi một mình trên đồi tạo nên một khung cảnh kỳ dị.

Băng qua đường, tôi tiến thẳng tới mục tiêu nhưng may sao kịp nhớ lại lời cảnh báo của bà Yokote: đi đường vòng, tránh người lạ. Phải khi đường vòng đúng là phí phạm năng lượng thật nhưng tôi cần phải tôn trọng người đã chỉ cho mình nơi này. Nghĩ vậy tôi bèn đi kiếm căn nhà có bờ giậu bao quanh.

Vài chục mét tính từ nhà kho tôi nhận ra một ngôi nhà có vẻ phù hợp với miêu tả. Ngôi nhà trông đầy phóng khoáng và vững chãi với mái lợp gạch. Nhìn qua khe hở giữa bờ giậu tôi thấy một cái cột đá đứng cạnh một thân cây cỡ đại. Không thể đem ra so với dinh thự nhà Chitanda nhưng đây vẫn là một cơ ngơi ấn tượng.

“Vậy là phải tới đó à?”

Dù đã được bà Yokote cho phép nhưng tôi vẫn thấy lo. Có lẽ nào đây là một âm mưu do bà sắp đặt, để rồi ngay giây đầu tiên bước vào tôi sẽ bị phát hiện và buộc tội xâm nhập gia cư bất hợp pháp?

Nghĩ vớ vẩn.

Lúc này tôi mới dám nhìn đồng hồ. Bốn giờ năm mươi, như vậy khoảng thời gian trên xe buýt là tầm hai mươi phút. Có lẽ việc bà Yokote nói rằng đi một giờ và đến lúc một giờ ba mươi chỉ là áng chừng. Tấm thời gian biểu cũng có nói rằng chuyến tiếp thoe đến Nhà Văn hóa sẽ khởi hành vào lúc năm giờ mười.

“Vậy thì còn kịp.”

Tôi có hai mươi phút để kéo Chitanda ra khỏi cái nhà kho đó. Nếu nhỏ hóa ra không tới đây thì coi như tôi đã làm hết cách và Ibara cũng không thể trách được.

Có cái gì lạnh lạnh đập vào má. Tôi chạm tay vào và nhận ra nó ướt. Con đường dưới chân bắt đầu lấm tấm những hạt đen…

Trời mưa rồi.

“Đùa nhau sao?”

Thường có nguy cơ những cơn mưa rào buổi chiều sẽ chuyển lớn. Tôi đã cố gắng hết sức nhưng có lẽ ông trời vẫn còn muốn thử thách. Hít thở sâu một cái cuối, tôi lao về phía ngôi nhà có bờ giậu.


7[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng qua ngôi nhà có hàng giậu rồi quay lại, lúc này tôi đã đứng trước cửa nhà kho.

Tới lúc này mưa vẫn chưa chuyển lớn nhưng vẫn đủ khiến cảnh vật như bị lồng trong một cái khung lờ mờ. Mái hiên không đưa ra nhiều và khó có thể coi đây là một chỗ trú mưa tốt. Hy vọng là gió lặng. Nhờ dãy hàng rào gỗ che chắn mà một thằng trông như học sinh trốn học như tôi mà đỡ lo về việc bị phát hiện khi đứng đây. Nhưng mừng bao nhiêu thì cũng lo bấy nhiêu: nếu tôi còn vào được thì gặp phường trộm cướp sẽ ra sao? Có lẽ đúng như bà Yokote đã nói – nơi này không còn chút giá trị nào với họ nữa.

Cửa nhà kho trông có vẻ dày và được trét vữa. Ban đầu còn nghĩ là cửa này chống cháy nhưng khi nhìn thấy cốt gỗ bên trong tôi đã biết mình sai. Đinh tán – loại to bằng cỡ nắm tay con nít được đóng thành một dãy từ trên xuống dưới khiến cánh cửa trông cực kỳ vững chãi. Có một cái lỗ chỉ ra rằng có thể khóa cửa nhưng vật quan trọng nhất là cái khóa thì không có ở đây. Xem ra chẳng phải nhọc công tìm chìa. Rê cánh tay dọc theo cột đinh tán, tôi lẩm bẩm:

“Rồi, giờ thì làm gì đây.”

Trước tiên phải biết được Chitanda có thực sự ở trong hay không đã. Tôi nghĩ mình chỉ cần đến và gõ cửa.

Vào lúc đó, một âm thanh ngọt ngào vang lên mà quyện hòa cùng tiêng mưa rơi. Ghé sát tai vào cửa, tôi im lặng mà lắng nghe

“Là… lá… la…”

Không phí quá nhiều thời gian để tự hỏi đây là ngôn ngữ gì tôi đã nhận ra. Tiếng xướng âm. Để kịp cho buổi trình diễn nhỏ đã khởi động ngay tại đây. Mải mê nghe tôi đã chẳng nhận ra những ngón tay của mình đang gõ theo nhịp… vào cánh cửa.

Âm thanh trong nhà kho im bặt ngay. Với người ở bên trong thì tiếng gõ lọc cọc của tôi có lẽ chẳng khác gì một tình tiết trong phim kinh dị. Để trấn an Chitanda tôi bèn lên tiếng:

“Chitanda, cậu ở trong đó hả?”

Áp tai lại vào cửa nhưng lần này lại chẳng nghe gì, tôi bèn gọi thêm một lần rồi áp tai vào đúng chỗ cũ.

“Cậu có trong đó không?”

Đáp lại là một âm thanh run run như thì thầm: “… Oreki-san à?”

Tốt rồi. Chitanda ở đây đúng như bà cụ Yokote đã dự đoán, dù không lâu trước tôi còn bán tín bán nghi.

Trông kềnh càng nhưng dường như cánh cửa khá mỏng nên tôi có thể nghe được tiếng thì thầm của Chitanda. Giọng nhỏ gần đến ngạc nhiên.

“Tại sao cậu lại ở đây?”

Nhỏ muốn biết lý do hay là cách mà tôi đến được đây nhỉ? Kệ, cứ trả lời cả hai vậy.

“Ibara đang tìm cậu khắp nơi nên tớ cũng tới giúp. Nhờ suy đoán của một bà cụ tên là Yokote mà tớ đến được đây.”

“Vậy à…”

Sau một quãng ngừng, nhỏ tiếp tục nói bằng một âm điệu như không còn sức sống.

“Tớ xin lỗi.”

Không có lý do gì để nhỏ phải xin lỗi cả. Vờ như mình không nghe thấy, tôi nói:

“Ở ngoài đây khó nghe lắm. Tớ mở cửa được chứ?”

Chúng tôi có thực là chỉ cách nhau một cánh cửa, hay là vạn lý thiên thu thế này?

“… Vâng.”

“Nếu cậu không muốn thì tớ sẽ không mở. Xin lỗi.”

Bà Yokote đã nói rằng đây là “căn cứ bí mật” của Chitanda. Theo tình hình hiện tại dù có xông vào mà không báo trước thì có lẽ Chitanda sẽ thông cảm… nhưng tôi vẫn thấy kỳ. Mưa không quá nặng hạt nên vẫn có thể nói chuyện qua cánh cửa… Tôi vừa nghĩ đến điều đó thì Chitanda đột nhiên trả lời:

“Không, không sao cả. Chỉ là… tớ đang là một mớ lôi thôi nhếch nhác.”

Im lặng, rồi lần này Chitanda lên tiếng với giọng điệu như mỉa mai mình.

“Oreki-san chắc là ghét tớ lắm. Nhiệm vụ thì chỉ có một nhưng tớ lại bỏ trốn. Chắc chắn là mọi người đều nghĩ tớ là đồ rắc rối. Tớ đúng là… tồi tệ hại.”

Rắc rối thì hơi hơi, nhưng ghét thì không bao giờ.

“À thì đúng là đã trễ buổi giới thiệu vào lúc hai giờ, nhưng tớ biết rằng cậu định sẽ đến vào lúc sáu giờ phải không? Ý tớ là, dù sao thì nãy giờ cậu cũng luyện quá trời.”

Nhỏ hỏi lại ngay:

“Cậu có nghe sao?”

“Ờ, một chút đoạn cuối.”

“…”

“Không phải tớ cố ý nghe trộm đâu. Chỉ là vô tình mà thôi.”

Trong một thoáng tôi chỉ được nghe âm thanh của mưa. Càng ngày việc đứng dưới cái mái hiên hẹp với mặt quay vào cửa càng trở nên mệt mỏi, tôi bèn tựa lưng vào tường, nuốt nước miếng rồi tiếp tục:

“Vậy… bây giờ thế nào? Cậu có đi được không?”

Nhỏ khẽ đáp:

“Cậu không định nói là tớ phải đi à?”

Chitanda thì không thấy, chứ hai vai tôi đã buông lõng.

“Nếu cậu không thể thì tớ cũng không ép. Bà cô tên Danbayashi đã bắt đầu tính đến chuyện chọn người hát thay rồi. Chắc chắn sẽ có một hay hai người thay thế được vị trí của cậu.”

“Tớ không thể làm thế.”

Tôi chưa từng nghe những âm thanh mỏng manh như thế này phát ra từ nhỏ.

Một con sên đang bò trên tấm gỗ hàng rào trước mặt tôi. Nó ở đây tự lúc nào? Thơ thẩn nhìn con sên, tôi nói:

“Nhưng cậu không thể hát mà, đúng không?”

Mãi hồi sau tôi mới nghe một lời đáp đầy cảnh giác:

“Oreki-san. Cậu đã biết điều gì đúng không?”

“Không, không hẳn. Xin lỗi vì đã làm như là mình biết cái gì nhé. Tớ không biết đâu.”

Nhỏ trả lời:

“Cũng đúng thôi… vậy ra đúng là tớ có vấn đề thật.”

Đám cỏ dại dưới chân tôi trở nên óng ánh mà hơi trĩu xuống vì những hạt mưa phùn. Con sên trên hàng rào có vẻ muốn bò lên cao hơn, nhưng chưa có tiến triển gì.

“Tớ không biết tất cả, nhưng nghĩ rằng mình có hiểu một chút.”

Tại sao Chitanda lại xuống xe.

Lúc này tôi tự hỏi Chitanda trông như thế nào. Rồi nhỏ cũng lên tiếng, hệt như một đứa bé đòi tôi kể truyện.

“Xin hãy nói cho tớ nghe.”

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi làm vậy? Nếu thực sự đúng về nỗi mâu thuẫn Chitanda đang giữ trong lòng thì tôi có thể cho nhỏ một sự cứu vớt nào không? Làm sao tôi có thể chắc là mình đúng. Thật là ngớ ngẩn. Tốt hơn tôi nên im lặng…

Không có âm thanh gì từ bên kia cửa, có lẽ nhỏ đang chờ…

Tôi nhìn đồng hồ, vẫn còn một chút thời gian trước khi xe đến…

Hình như có một truyện ngụ ngôn mang bối cảnh ý hệt như thế này. Vậy vai của tôi trong truyện là gì? Nhà thông thái, hay là đấu sĩ can trường? Phải chăng tôi chỉ là một chàng vũ công hòa vào điệu múa của người kép chính? Một điệu nhảy kỳ quặc, nhưng nếu ngôi sao của biểu trình diễn muốn vậy thì tôi sẽ phải nhảy. Dù là nông cạn hay sai lầm thì tôi cũng phải nói.

“À thì, tớ chỉ nghĩ có khi nào…”

Hớp một ngụm không khí lớn, tôi nhìn lên bầu trời đang đổ mưa không ngớt. Nhìn vào những vầng đen vô định kia.

“… cậu đã được bảo là không cần phải kế thừa cơ nghiệp của gia đình?”

Kế đến chỉ là tiếng mưa. Năm giác quan của tôi ong ong lên bởi những thanh điệu nhiễu nhặng xì xào.

Suỵt!

“Cậu có nhớ cái buổi mà Ibara đưa ra một bí ẩn để cả bọn cùng giải không? Chuyện về tách cà phê ngọt quá mức cần thiết ấy. Hôm đó cậu khá là xao lãng và điều đó không bình thường chút nào. Ban đầu tớ chỉ nghĩ là mỗi người đều có những ngày khó ở, nhưng rồi lúc chuẩn bị rời khỏi phòng tớ có nhìn lại cuốn sách cậu đang đọc. Hóa ra là tớ đã không nhầm – đó là một cuốn cẩm nang hướng nghiệp phải không? Nên chọn đại học nào sau khi tốt nghiệp cao trung, sẽ theo đuổi chuyên ngành nào rồi cụ thể sau này mình sẽ làm việc gì. ‘Cẩm nang hướng nghiệp’ là thứ chứa tất cả lựa chọn đúng chứ?”

Nhờ mái hiên nên tôi vẫn an toàn dưới cơn mưa trừ việc bàn chân đã bắt đầu thấy ướt. Mưa mùa hè mà, ướt chứ không lạnh.

“Tụi mình đã lên năm hai và việc bắt đầu nghiên cứu những loại sách như vậy là bình thường… nhưng tớ lại thấy lạ. Ibara và Satoshi sẽ phải suy xét về con đường tụi nó muốn đi trong tương lai, nhưng cậu thì khác. Trong dịp đi viếng đền đầu năm hay ở lễ hội Búp bê sống vào tháng tư, tớ đã được chứng kiến cậu hành sự với tư cách một người con nhà Chitanda như thế nào. Cậu đã chọn con đường của mình sớm hơn tất cả bọn tớ – ít nhất thì lẽ ra là vậy. Chẳng có lý do gì kiến cậu phải chăm chú vào một cuốn sách hướng nghiệp cả.”

Bấy giờ tôi chỉ vô tư mà nghĩ rằng có thể nhỏ muốn tham khảo về những hướng đi mà mình đã bỏ qua. Tuy nhiên, với mọi thứ đã và đang diễn ra trong ngày hôm nay tôi bắt đầu lo ngại về một khả năng khác.

“Và rồi đến trưa nay, tớ nhận được điện thoại của Ibara báo rằng cậu mất tích. Tớ biết là cậu có lý do, và phải tới khi đọc những thứ mà cậu sẽ phải hát tớ mới nghĩ đến một giả thuyết.”

Đúng hơn là lý do đó chỉ nằm trong đoạn bà cô Danbayashi đã chỉ ra.

“Satoshi có nói thế này: trong sáng tác của mình nhạc sĩ Sandou Enjima thường tôn vinh những giá trị đạo đức một cách không ngại ngần, vì vậy nhiều tác phẩm bị cho là quá mang tính giáo huấn và ông ấy chưa boa giờ được coi là nghệ sĩ lớn.”


Được nằm dưới trời, bầu trời rộng thênh.


“Đoạn solo của cậu bày tỏ sự ngưỡng mộ vô bờ tới tự do.”

Nếu Satoshi không đề cập tới chuyện đó thì có lẽ tôi đã không thể liên kết cái cảm giác kỳ lạ nơi đầu lưỡi với sự mất tích của Chitanda. Khi chơi cờ shogi vói cháu họ của mình hắn có thể thả cho thắng, nhưng tuyệt nhiên không chịu nói là “Anh chịu thua”.

“Tớ cũng có một câu truyện gần giống như vậy. Hồi xưa khi dự đám cưới của một người thân trong gia đình tớ bị bắt phải hát thánh ca. Lẽ ra đó là một việc đơn giản vì lời bài hát cũng chỉ quanh quẩn trong tôn vinh Chúa Giê-su và Đức Mẹ Maria nhưng không, tớ đã không thể hát. Tôn vinh một thứ trong khi chưa có đức tin, chẳng phải thế là xúc phạm với những người thực sự tin vào Chúa hay sao?”

Dối trá đặt đánh nặng lên tâm can.

“Nếu là bất cứ cái gì khác thì chuyện đã không là vấn đề, và tớ tự hỏi là cậu – với tình hình hiện tại – liệu có thể hát một bài tôn vinh sự tự do hay không?”

Chitanda còn ở bên kia cánh cửa chứ? Nhỏ không nói, đúng hơn là không gây ra đến một tiếng động. Dù vậy tôi vẫn muốn tiếp tục màn độc thoại:

“Cho đến tận gần đây thôi, thì tương lai của cậu – xin lỗi nếu tớ có khiếm nhã – không phải là thứ tớ có thể coi là “tự do”. Tớ chắc rằng cậu có những suy nghĩ của mình, nhưng có một sự thật không thay đổi là rồi cậu cũng sẽ kế thừa cơ nghiệp nhà Chitanda. Và, nếu chỉ dừng lại ở đó thì tớ không thấy một lý do gì khiến cậu có vấn đề với bài hát cả. Chắc hẳn trước ngày hôm nay cậu đã có những buổi tập luyện bình thường và ngay từ đầu cậu cũng chẳng từ chối đoạn solo. Như vậy chỉ mới đây thôi tình hình đã thay đổi.”

Có lẽ là trước cái ngày Ibara kể chuyện về tách cà phê.

“Và nếu nó khiến cậu không thể hát thì… chẳng phải nghĩa là cậu đã cảm thấy mình ‘tự do’?”

Không một lời xác nhận hay phủ nhận.

“Một người đã luôn sống và làm những thứ mình muốn trong khi vẫn hiểu là một ngày nào đó mình sẽ kế thừa cơ nghiệp của gia đình. Đối với cậu đó là một sự thật không bao giờ thay đổi… nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu đột ngột bị bảo là nó sẽ thay đổi? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu cậu, có thể là chỉ trong một đêm, được ba mẹ cậu bảo là không cần phải lo lắng về việc kế nghiệp gì hết mà hãy sống cuộc sống của mình?”

Bà cụ Yokote có lẽ cũng nghĩ rằng việc người cháu gái của bà trở thành người kế nghiệp là đương nhiên và vì lẽ đó sẽ quay lại để hoàn thành bổn phận của mình, nhưng liệu bà có còn nghĩ vậy nếu Chitanda không còn được đặt vào cái khuôn đó?

“… Cậu sẽ không biết phải làm sao.”

Trên vai tôi không mang một vai thứ nào to lớn. Đó chỉ là chuỗi ngày lười biếng trung thành với phương châm “tiết kiệm năng lượng” mà mình đã đặt ra. Có lẽ tôi không thể hiểu những gì Chitanda đang mang trong lòng hay đúng hơn, là tôi không có tư cách để hiểu bất cứ thứ gì trong số đó – thế mà lại dám khẳng định như đúng rồi. Thật nực cười mà.

“Trước hàng trăm con người như vậy cậu có thể hát bài hát đó mà bảo rằng mình tự do? ‘Nhưng dĩ nhiên vì cậu đã chấp nhận nhiệm vụ này nên bằng mọi giá cậu phải làm. Không thể đặt cả ban hợp xướng vào thế khó chỉ vì vấn đề của riêng mình. Dẹp nó qua một bên mà hát đi. Đó là nghĩa vụ. Đừng coi tất cả chỉ là việc của mình…’ Tớ đồ rằng đó là những lời mất lòng nhưng hợp lẽ và bất kỳ ai biết chuyện của cậu cũng sẽ nói với cậu...”

Thực tế là vậy. Ibara thì có lẽ không. Satoshi thì càng không. Nhưng sẽ có người nói.

“Nhưng tớ… dù mọi suy đoán ban nãy có đúng đi nữa thì tớ sẽ không trách cậu.”

Có quyền gì mà trách?

Mùa mưa đã qua từ lâu nhưng cơn mưa phùn xôm xốp, lằng lặng của hiện tại vẫn chưa có dấu hiệu tạnh bớt hay chuyển lớn. Con sên trên hàng rào đã biến mất. Nó đã chậm nhưng chắc mà lên được tới đỉnh hay là rớt xuống đám cỏ bên dưới. Tôi không thể biết được.

Từ bên kia cánh cửa phát lên những âm thanh khe khẽ:

“Oreki-san.”

“Tớ nghe đây.”

“Dù được bảo là cứ sống theo những gì mình muốn… Dù được bảo là có thể chọn bất cứ công việc nào… Dù được bảo là nhà Chitanda rồi sẽ ổn nên tớ không cần lo…”

Giọng nói của nhỏ, lại một lần nữa bị lạc đi thành sự tự mỉa mai mà thốt lên lời cuối cùng.

“Dù bây giờ đã được ban đôi cánh… nhưng tớ phải làm gì đây?”

Không còn một lời nào hết.

Gánh nặng Chitanda luôn mang trên mình giờ đây đã được giỡ bỏ. Thế à? Vậy tại sao tôi đột nhiên muốn đấm vào một thứ gì đó với tất cả sức lực của mình. Để làm tan nát nó. Để tự làm bàn tay này rỉ máu.

Đồng hồ đã chỉ năm giờ sáu phút. Chưa đầy bốn phút nữa chuyến xe buýt hướng về Nhà Văn hóa sẽ đến.

Lời cần nói đã nói. Việc phải làm đã làm.

Những gì còn lại, dù có khiến tôi đau khổ đến thế nào, cũng chỉ là giành cho Chitanda.

Mưa vẫn rơi. Trong nhà kho không còn giai điệu nào được cất lên nữa…

  1. Khi gọi tên người Nhật mà không thêm tiếp hậu ngữ (-sempai, -sensei…) thì chỉ được coi là suồng sã, không trang trọng chứ không đến mức là vô phép như tiếng Việt. Trong trường hợp này Houtarou gọi người thầy của mình chỉ bằng tên nên việc Chitanda lộn với một cậu bạn khác là dễ hiểu. Từ đây về sau dù vẫn chỉ gọi bằng tên, nhưng để phù hợp với ngôn ngữ Việt người dịch sẽ vẫn để Houtarou gọi là “thầy Ogi”.
  2. Self-Defense Force: Lực lượng Tự vệ Nhật Bản.
  3. Một nghĩa khá thông dụng của ATM với người Nhật (và trên thế giới) là “Automatic Teller Machine”
  4. Tiếng anh là “Anti-Tank Missile”
  5. Nguyên gốc là “Terra e…”
  6. Nhiều tạp chí phát hành hàng tháng sẽ ra ấn phẩm có tháng sau thời điểm phát hành một tháng. Ví dụ trong trường hợp này, Mayaka mua “Ấn phẩm tháng ba” vào ngày mười tám tháng hai.
  7. "Kazuru Ihara" có lẽ là mượn tên từ nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thời Edo Saikaku Ihara (1642-1693), người có cùng họ với Mayaka dù cách đọc khác nhau (“Ihara” và “Ibara”)
  8. "Chạy đi, Melos!" là một truyện ngắn rất nổi tiếng của Dazai Osamu – một nhà văn thời hậu thế chiến cũng nổi tiếng không kém (1909-1948).
  9. Matsuo Basho (1644 - 1694) được coi là cha đẻ của dòng thơ haiku. Đoạn thơ này là mở đầu của tác phẩm “Con đường hẹp về phương Bắc sâu thẳm” – một tuyển tập truyện ngắn và thơ đã trở thành nguồn cảm hứng cho rất nhiều tác phẩm văn học sau này kể về chuyến phiêu bạt của ông khắp mọi miền Nhật Bản.
  10. Mật ong
  11. Ở Nhật người ta có thể dùng địa chỉ email làm địa chỉ nhận tin nhắn di động chứ không nhất thiết phải là số điện thoại..
  12. Một vị thần chiến tranh.
  13. Trích một khổ thơ haiku của thi sĩ vĩ đại Matsuo Basho (1644-1694).
  14. Kiến thúc bằng đá thường có màu đỏ được đặt trước đền thờ Thần Đạo.
  15. Gennai Hiraga (1728-1780) là một nhà phát minh nổi tiếng người Nhật Bản. Oreki ở đây muốn cảm thán rằng cái phát minh “Máy tạo tĩnh điện” (erekiteru) nghe giống như "Eru đang trong đó " (eru kiteru).
  16. Đơn vị đo diện tích phòng bên Nhật thường dùng là “chiếu” – tức là bội số của diện tích một bức chiếu tatami (91x182 cm)
  17. Một câu niệm trong kinh Phật. Houtarou cảm thấy lạ là vì đền nhà Juumonji là đền Thần Đạo chứ không phải Phật giáo.
  18. Vị thần về mùa vụ và thương nghiệp.
  19. Thần Inari có hình dạng là cáo nên còn được gọi là “Thiên Hồ” (cáo trời)
  20. Dịch từ “armchair detective” – thuật ngữ chỉ những trinh thám chuyên giải quyết vụ án chỉ bằng cách suy nghĩ chứ không chủ động đến hiện trường tìm manh mối.
  21. Là một thời kỳ trong lịch sử Nhật Bản, từ ngày 30 tháng 7 năm 1912 đến 25 tháng 12 năm 1926.
  22. Là một loại gia vị nêm có vị ngọt, màu vàng nhạt, dạng chất lỏng hơi đặc hơn nước. Thành phần khoảng 40%~50% chất đường và 14% rượu.
  23. Từ chỉ sự làm một việc gì đó một mình.
  24. Tiếp hậu ngữ -kun thường chỉ dùng để nói về người con trai với sự thân mật.
  25. Thông thường Houtarou chỉ gọi Chitanda là “Chitanda”, nhưng lúc này – có lẽ vì nhận thấy mình đang nói chuyện với người lớn và biết về Chitanda – nên cậu chàng phải nhanh chóng thêm -san vào cho lịch sự.
  26. Nhớ rằng Chitanda là họ, và vì -san thường dùng để chỉ người ngang hàng nên “Chitanda-san” đối với bà Yokote (chỉ bố của Chitanda) sẽ khác với của Houtarou (chỉ chính Chitanda)
  27. Trong tiếng Nhật thì con của anh em ruột và con của anh em họ được biểu thị bằng hai từ khác nhau.
  28. Dango là một loại bánh dẻo của Nhật, yomogi dango là dango vị ngải cứu.
  29. Kiểu phục vụ “drive-through”: khách có thể đặt và nhận bánh khi vẫn ngồi trong xe, thông qua một cửa sổ tiếp khách.
  30. Trong các loại xe số, “số nhỏ” (1,2) thường được dùng khi xe lên dốc. Số càng nhỏ thì lực kéo càng mạnh và xe đi càng chậm.



Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Theo dõi & Thanh chuyển trang

Bỏ theo dõilatest?cb=20190220103837&format=originalbộ truyện này
► Xem lại Tập 5♬   Hyouka   ♬ 
Community content is available under CC-BY-SA unless otherwise noted.