FANDOM


Lưu Pocket Xuất PDF
qVXrCVu.png


Story3

Đêm đó cô nằm mơ…


Giấc mơ đưa cô về một khoảng thời gian xưa, khá xưa, khi anh và cô còn là hai đứa trẻ. Đó là một buổi tối tĩnh lặng với những bông tuyết lơ đễnh bồng bềnh trôi trong không trung, rồi nhẹ nhàng đáp xuống mặt đường bấy giờ chỉ còn một màu trắng của tuyết phủ lên. Vài đốm sáng leo lét từ mấy nhà kho để nông cụ nằm rải rác trên những cánh đồng hai bên đường soi rõ hai cặp dấu chân hằn lên cái nền trắng mịn quá đỗi đơn điệu của một con đường lớn.


Phía xa, giữa một khoảnh đồng rộng lớn đứng trơ trọi một cây anh đào. Thân cây mang màu đen đặc quánh hơn cả thứ tối của trời đêm khiến nó giống như một hốc đen cô độc giữa vũ trụ bao la vậy. Chẳng mấy chốc cô và anh đã đến đây, cùng hướng mắt về những nhánh cây xác xơ như đang chờ một phép lạ nào đó. Họ nhận ra mình đang đắm trong vô số cánh hoa tuyết rụng từ tầng tầng lớp lớp những cành cây vươn dài như muốn ôm ấp thứ tình cảm ấm áp họ đã dành cho nhau.


Cô từng hay nghĩ về cuộc sống sau này.


Từ đó đến nay anh đã luôn là nguồn động viên to lớn của cô, thế nên việc chấp nhận một thực tế rằng nguồn động viên ấy sắp sửa rời xa cô là một sự chịu đựng quá sức. Ngày cô nhận lá thư và biết tin anh sẽ chuyển đến một nơi rất xa thì cô đã quyết dặn lòng không được đau buồn nữa…


Nhưng nói thì dễ hơn làm.


Mỗi lần tâm trí vô tình nhắc đến sự mất mát một hình hài thân thuộc, một cảm giác ấm áp thì bầu khí quyển xung quanh cô lại đặc quánh một nỗi lo âu khó chịu. Cô nghĩ mình đang rơi vào một hốc đen của sự cô đơn. Cô có thể giả vờ khi mình còn tỉnh táo, nhưng làm sao có thể cản được giấc mơ, khi giấc mơ thì không lừa ai cả?


Nó chỉ mang đến những cảm xúc chân thật nhất như chỉ mới là ngày hôm qua.







Sẽ ra sao khi bông tuyết trở thành những cánh hoa anh đào nhỉ?




Tất cả sẽ thật tuyệt vời nếu bây giờ là mùa xuân, một chút se lạnh len vào lớp khí quyển ấm áp sẽ tạo nên một sự kết hợp đầy dễ chịu. Vẫn sẽ là khoảnh ruộng ấy, trên con đường rộng thênh thang mà anh và cô từ trường về nhà sẽ có một cây anh đào nở rộ vô vàn những cánh hoa hồng nõn…




Ước gì bây giờ là mùa xuân, để anh và cô lại cùng nhắm anh đào.







Cũng cái đêm đó anh đang ngồi đọc sách trong phòng.


Mười hai giờ khuya, anh nằm trằn trọc trên giường mà không sao ngủ được. Anh bèn vơ đại một quyển trong đống sách và mở một lon bia…


Buổi tối thật lạnh và yên tĩnh. Anh quyết định mở TV thay vì thói quen nghe nhạc khuya của mình. Âm thanh từ bộ phim đang chiếu nhẹ nhàng vang lên khắp phòng. Qua khung cửa sổ bị rèm che đi một nửa anh thấy vô số bông tuyết lững lờ trôi mà hoà cùng hàng chục đốm sáng đèn đường tí hon như một bầy đom đóm. Tuyết đã bắt đầu rơi từ xế trưa, tới chiều thì trời đổ mưa tầm tã, rồi tuyết, rồi lại mưa. Chỉ đến tối khi những hạt mưa ngoan cố cuối cùng bị đông lại mới là lúc những bông tuyết “chính hiệu” to tròn bắt đầu rơi, rơi chậm rãi.


Biết mình không thể tập trung vào bộ phim trước mặt, anh tắt TV và sự yên tĩnh lại trở về với căn phòng. Chuyến xe cuối cùng đã đi khỏi và không còn một âm thanh nhân tạo nào tồn tại quanh đây. Anh thậm chí có thể nghe được tiếng tuyết rơi, một thứ thanh âm mệt mỏi và yếu ớt tựa như hơi thở của trời đông lạnh giá.


Một xúc cảm chợt ôm lấy anh. Nó vững bền và thật ấm áp, và anh biết nó đã mất trong anh từ rất lâu. Anh tự hỏi tại sao mình thứ cảm giác lạ kì này lại đến với anh giữa thời điểm khuya khoắt như thế này, cho đến lúc chợt nhớ về một kỉ niệm đã xa. Cũng vào một đêm đông lạnh và yên tĩnh thế này anh đứng dưới một tán anh đào.




Bao lâu rồi nhỉ? Nếu tính từ hồi kết thúc năm đầu tiên trung học, thì anh đã già hơn mười lăm tuổi…


Vẫn chưa thầy buồn ngủ, anh thở dài cái thượt và đóng quyển sách lại, uống cạn lon bia.


Ba tuần trước anh đã nghỉ việc ở công ty anh đã làm gần năm năm mà chưa thèm nghĩ đến việc xin một việc làm mới. Đối với anh, khoảng thời gian hiện tại là “cuộc sống thư giãn và thoải mái của một kẻ vô công rỗi nghề”.




... 'M'ình làm sao thế này'?




Anh tự hỏi mình trước khi đứng dậy. Động tác đột ngột khiến anh hơi khững lại vì tim đập mạnh. Anh đi về phía lò sưởi, khoác lên mình một lớp áo dày, mang bốt và cầm theo một cái ô để đi ra ngoài. Tuyết vẫn tiếp tục rơi, chúng phủ lên mặt ô một lớp màng trắng với những tiếng kêu lộp độp. Năm phút đi bộ đã qua và anh đang đứng trước một cửa hàng tiện lợi.


Với hai tay bấy giờ đang xách đầy đồ ăn và mấy chai sữa, anh dừng lại ở quầy tạp chí. Hơi lưỡng lự một chút nhưng anh vẫn cầm lên số mới nhất của Nguyệt san Khoa học. Đây là tạp chí mà anh khi còn học sơ trung cực kì mê, thế mà đã mười mấy năm trôi qua từ lần gần nhất anh cầm một cuốn. Số tháng này có những bài viết về tình hình băng tan ở Nam Cực, rồi ảnh hưởng của lực hấp dẫn giữa các thiên hà với nhau, hay những hợp chất mới được phát hiện và lợi ích của công nghệ nano đối với môi trường v.v...


Thật là ngạc nhiên. Không ngờ thế giới còn bí ẩn quá, còn nhiều thứ để khám phá và những cuộc phiêu lưu khiến bao độc giả phải ồ lên kinh ngạc. Anh nghĩ vậy khi nhìn những dòng tiêu đề bắt mắt chen nhau chật kín cà trang bìa tạp chí.


Một lần nữa, trong anh nổi lên thứ cảm giác lạ lùng của một người chào đón người bạn thân lâu năm không gặp. Anh hít một hơi thật sâu, cùng lúc đó một bản nhạc xưa bắt đầu vang lên trong cửa hàng. Một bài hát nổi tiếng mà lần đầu anh nghe cũng là hồi sơ trung. Nhiều năm đã trôi qua và giớ đây những âm điệu du dương thân thuộc ấy lại được rót vào tai, làm trước mắt anh cả thế giới khoa học chứa trong cuốn tạp chí như bị nhòe đi, như đã vỡ tan thành từng mảnh vụn. Trong dòng cảm thức trôi đều theo tiếng nhạc, anh nghĩ mình đang thấy một mùa xuân tuyệt đẹp mà anh từng quên nó đẹp như thế nào.


Nhiều phút trôi qua sau khi bìa hát kết thúc, trong lòng anh vẫn còn một nỗi chộn rôn nhẹ nhàng.



Bước ra cửa, anh trở lại với trời khuya lạnh lẽo nhưng cảm thấy ấm áp hơn nhiều. Quá lâu rồi anh mới được nghe trái tim mình lên tiếng. Ngửa mặt lên bầu trời trong veo với những bông tuyết trắng anh thầm nghĩ.





Sắp rồi'!' ''Sang' xuân, những bông tuyết sẽ trở thành cánh hoa...' Sau khi tốt nghiệp cao trung ở Tanegashima, Takaki Toono trúng tuyển vào đại học Tokyo và anh cũng chuyển về lại thành phố. Để tiện việc đi lại anh đã thuê một căn hộ nhỏ cách nhà ga Ikebukuro khoảng ba mươi phút đi bộ. Trừ quận Setagaya, nơi anh đã sống năm năm thì anh không có một chút kí ức gì về Tokyo, nói cách khác anh hoàn toàn xa lạ với mọi vùng đất “ngoài-Setagaya” của thành phố vừa lớn vừa đông dân cư này. Những con người “Tokyo mới” đối với anh – là quá thô lỗ và bất văn mình. Họ vô tư chửi tục và hút thuốc nơi công cộng, khạc nhổ rồi xả chai lọ, sách báo, hộp cơm cùng vô số loại rác lớn nhỏ khác nhau như cái mặt đường sinh ra để làm vậy.


Mọi thứ đã thay đổi...


Trong kí ức của anh Tokyo đã từng là một nơi sạch sẽ và thơ mộng lắm.


Chịu thôi!

Dù gì thì cũng đến đây rồi, anh nghĩ vậy. Hai lần chuyển chỗ ở trước đã giúp anh thích nghi nhanh chóng với môi trường mới. Vả lại anh đâu còn là một đứa bé nhút nhát từng níu chặt lấy ba mẹ khi tàu băng qua những ngọn núi trên tuyến Oomiya mà đến nhà ga Shinjuku? Cậu đã nghĩ mình không đời nào sống được ở đây. Thế mà vài năm sau khi rời Tokyo để đến hòn đảo Tanegashima[1] xa xôi lại là một lần nữa cảm giác bị thế giới ruồng bỏ ập lên cậu. Mỗi chiếc máy bay hạ cánh xuống sân bay của đảo, mỗi khi xe của ba lao vút trên con đường nhựa, những bãi cỏ trong lòng một khoảng trời xanh thẳm – tất cả mọi thứ đều quá đỗi bao la đã khiến cậu bé nhớ về một Tokyo chật chội mà ấm áp da diết đến chừng nào!




Đi đâu cũng vậy, ít nhất lần này là mình tự muốn đến đây. Anh nghĩ vậy khi tầm mắt vừa đảo quanh đống thùng các-tông chất đầy phòng rồi phóng ra khung cảnh bên ngoài.




Không có nhiều thứ để nói trong bốn năm đại học của Takaki. Bên cạnh phần lớn thời gian được dành cho việc học anh thường tranh thủ đi làm thêm. Nếu rảnh rỗi anh sẽ đi xem phim, mua sắm và thậm chí, nếu chán, anh còn cúp tiết mà bắt xe đến công viên đối diện nhà ga Ikebukuro nơi anh thường ngồi đọc sách đến tối. Ban đâu sự ồn ào của công viên làm anh khó chịu nhưng chỉ vài bữa là quen. Cũng như hồi đi học anh cũng có vài người bạn ở trường và cả chỗ làm thêm nhưng theo thời gian có người đến thì cũng có người đi. Khác với hồi đó họa chăng là anh đã có được hai ba người bạn đã thành thân thiết. Rảnh rỗi cả bọn lại tụ về nhà một đứa, uống bia, hút thuốc và bàn tán về đủ thứ trên đời đến tận sáng.


Thời gian trôi qua thường làm phai mờ nhiều giá trị, nhưng cũng có những giá trị lại nhờ thời gian mà vững bền hơn trước.







Mùa thu năm thứ nhất đại học anh quen người con gái đầu tiên.


Cô gái đến từ Yokohama bằng tuổi và làm cùng nơi với anh. Lúc đó công việc của họ là bán cơm hộp trong căn tin của trường vào giớ nghỉ trưa. Ban đầu anh không có ý định làm thêm trong trường nhưng một phần vì việc học quá bận, phần khác là vì mức thù lao khá ổn đổi lấy vài giờ nghỉ ngơi ngắn ngủi. Cứ hết tiết hai lúc mười hai giờ mười phút là anh chạy thẳng đến căn tin mà đẩy xe đi bán cơm hộp. “Cô gái Yokohama” chính là người bán chung với anh, và mười lăm phút trước khi vào tiết ba là khoảng thời gian để họ hộc tốc giải quyết bữa trưa của mình. Anh làm việc với cô được ba tháng.




Mối tình đầu đã dạy anh nhiều thứ, ở bên cô anh được nếm trải cả niềm vui lẫn nỗi đau đớn trong thứ được gọi là “tình yêu”. Thậm chí họ đã ngủ với nhau. Bên cô anh mới nhận ra con người có rất nhiều xúc cảm, và số lượng khổng lồ những xúc cảm ấy lại được xếp vào hai loại : điều khiển và không điều khiển được. Ghen và yêu chắc là thuộc loại hai bời chúng chưa bao giờ phụ thuộc vào ý chí của anh cả.


Quan hệ với cô gái tiếp tục được thêm sáu tháng nữa, kết thúc bằng việc cô chấp nhận làm quen với một chàng trai anh chưa từng gặp mặt.




“Em rất yêu Toono-kun nhưng em biết Toono-kun không yêu em nhiều như vậy, em không thể chịu được nữa…”




Lời cuối cùng được thốt lên trong làn nước mắt khi cô ôm anh lần cuối cùng.


Anh đã không nói được lời nào. Anh tự trách mình thật sai lầm khi để cô nghĩ như vậy, và thế là anh từ bỏ. Chỉ đến khi thật sự mất cô anh mới hiểu được nỗi đau ấy – một nỗi đau khó tả đã giày xéo từ tâm can cho đến toàn thân thể. Anh vẫn nhớ những bữa trưa vội vã của hai người khi những hộp cơm đã được bán hết. Đồ ăn của anh xoay đi xoay lại toàn mấy món ăn trong cửa hàng tiện lợi, còn cô thì mang theo cơm nhà. Cô luôn ăn khi vẫn mang tạp dề và mặc dù hộp cơm của cô chỉ bằng nửa của anh nhưng anh luôn là người ăn xong trước. Còn nhớ khi anh chọc cô vì cái tính ăn uống chậm chạp cô đã phản pháo lại : “Tại anh ăn nhanh quá thôi Takaki-kun à. Thật là phí phạm!”




Mãi lâu sau anh mới hiểu rằng cô không muốn khoảng thời gian hai người ăn chung với nhau trôi đi nhanh quá.







Người con gái thứ hai đến với anh cũng là nhờ việc làm thêm. Vào năm ba đại học anh làm trợ giảng trong một trường bồi dưỡng văn hóa. Bốn ngày một tuần sau giờ học anh chạy đến nhà ga Ikebukuro, đi tuyến Yamanote đến Takadanobaba sau đó chuyển sang tuyến Tousai để tới trường Kamiraku Hills. Cả trường chỉ có hai giảng viên một Toán một Tiếng Anh cùng năm trợ lý tính luôn cả anh.


 Giảng viên dạy toán là người nổi tiếng nhất trường, sự nghiêm túc trong công việc cùng vẻ ngoài cuốn hút của một người đàn ông vừa bước sang tuổi ba mươi và yên bề gia thất thường để lại ấn tượng sâu sắc với bất cứ ai từng tiếp xúc với thầy. Thầy luôn chú trọng đến nội dung ôn thi nhưng lại thể hiện nó một cách khéo léo bằng nhiều hình thức khiến cho phần lớn học sinh theo học vốn rất ghét môn Toán đã bắt đầu chịu học. Làm trợ giảng cho thầy tạo điều kiện cho Takaki vận dụng khá nhiều hiểu biết có được ở trường vào thực tế, và đối lại có vẻ như thầy cũng đánh giá cao khi giao cho anh tự chuẩn bị đề kiểm tra định kì cho lớp. Dĩ nhiên với một khả năng làm việc hiệu quả anh luôn làm hài lòng mọi sự kì vọng, tiền lương cũng vì thế mà được nâng lên.


Trong số các trợ giảng còn lại có một nữ sinh viên đến từ Waseda. Cô ấy rất đẹp, đẹp hơn bất cứ người con gái nào anh từng gặp. Mái tóc dài cùng đôi mắt to đáng ngạc nhiên, dáng người mảnh khảnh và chiều cao vừa phải đã tạo nên một hình mẫu tuyệt vời. Trong mắt anh cô đẹp một cách hoang dã, như một chú nai không biết sợ hay một chú chim đang thỏa sức bay trên trời cao.


Lẽ dĩ nhiên cô nhanh chóng trở thành tâm điểm của sự chú ý, từ cả thầy lẫn trò. Trong khi người ta cố gắng kiếm cơ hội nói chuyện với cô thì Takaki lại chủ động tránh né. Anh không hiểu và không biết diễn tả như thế nào, chỉ đơn giản nghĩ dạng người quá xinh đẹp như cô thì khó mà trò chuyện tự nhiên ở ngoài đời.







Nhưng dù là ai khi đã bắt chuyện với cô thì đều nhận được một nụ cười rất tươi đầy mê hoặc,. Mặc dù xét về hướng ngược lại, tức là khi không cười ấy, hình như trừ trường hợp cần thiết cô không bao giờ chủ động bắt chuyện với ai cả. Điều trái khoáy là hầu như chẳng ai để ý đến sự thụ động đó và lại còn nghĩ là cô rất hòa đồng.


Anh thấy lạ khi người ta có thế ca tụng những câu như “Cô ấy vừa đẹp lại vừa khiêm tốn nữa, dễ gần lắm!” nhưng không hề có ý định chỉ ra họ đã sai lầm nghiêm trọng đến thế nào.


Nếu cô ấy thực sự không muốn giao tiếp với người khác thì cô ấy nên dừng lại. Mỗi một người trong thế giới này đếu có giới hạn cho riêng mình và chính điều đó làm họ khác nhau.

Dĩ nhiên anh sẽ không nói ra những điều có thể khiến anh gặp rắc rối.







Ngay trước lễ Giáng Sinh là một ngày mùa Đông cực kì lạnh. Hôm đó thầy có việc đột xuất phải về trước nên giao lại việc soạn đề thi cho Takaki và cô gái kia làm nốt. Một tiếng đồng hồ trôi qua kể từ lúc bắt đầu làm anh cảm thấy có điều gì bất thường. Một cảm giác bất an bao trùm lấy cơ thể khiến anh không thể không ngẩng đầu lên. Đối diện anh bấy giờ là một gương mặt nhợt nhạt gác trân bàn tay nhỏ đang khẽ run lên. Đôi mắt cô vẫn nhìn vào xấp giấy trắng nhưng chắc chắn rằng tâm trí không hề để vào đó.


Trán cô ướt đẫm mồ hôi.


Lo lắng, Takaki gọi tên cô nhưng không thấy trả lới, anh liền đứng dậy và vỗ vai cô .


“Sakaguchi-san, em bị ốm à?”


“… thuốc”


“Cái gì?”


“Em phải uống thuốc, lấy dùm em một ly nước…” cô thều thào. Anh lập tức lao ra khỏi phòng, đến chiếc máy tự động đặt ngoài hành lang và mua một lon trà. Anh trở về phòng và thấy cô đang lấy ra một vỉ thuốc với đôi tay run bần bật.


“Lấy dùm em ba viên …”


Anh lấy ra ba viên thuốc màu vàng rồi cho cô uống. Một sức nóng bừng lên khi tay anh chạm vào bờ môi mềm mại…







Mối tình thứ hai sớm kết thúc sau ba tháng ngắn ngủi, cuộc chia tay đã để lại vết thương lòng mà anh nghĩ sẽ không bao giờ hồi phục lại.


Liệu cô ấy có đau không?


Chưa bao giờ anh quá yêu và quá ghét ai nhanh đến thế. Còn nhớ hai tháng đầu quen nhau cả hai đã cố gắng vun đắp tình cảm cho nhau như thế nào, vậy mà tháng cuối cùng chỉ toàn là những niềm đau. Những khoảng thời gian hạnh phúc ngất ngây đã chấm dứt bằng những ngày họ ném vào nhau những lời lẽ nhẫn tâm, cay độc mà đến tận bây giờ anh còn không dám tin.




Nhưng dù có căm ghét cô đến chừng nào, thì sao anh có thể quên cái ngày hai mươi bốn ấy? Ngắm nhìn khuôn mặt hồng hào có sức sống trở lại của cô khiến tim anh loạn nhịp. Cô như một nụ hoa vừa chớm nở, một điều kì diệu độc nhất trên thế giới mà chỉ có anh mới được chứng kiến.


Và mình đã đánh mất bông hoa đó!



Không lâu sau cô cặp bồ với thầy dạy Toán dù thầy đã có vợ, nhưng anh chẳng còn quan tâm nữa.







Mùa hè năm cuối là lúc Takaki bắt đầu đi kiếm việc chính thức. Cần ba tháng nguôi ngoai anh mới nói chuyện bình thường được với người khác. Một khích lệ không nhỏ giúp anh lên tinh thần là từ người trợ giảng đầy từ tế và nhiệt huyết đã đưa ra những chọn lựa việc làm tốt nhất cho anh. Anh không biết đó có phải là công việc anh muốn làm hay nên làm hay không? Chỉ có cảm giác là anh cần bắt tay làm việc vào ngay mùa thu này. Dù gì anh cũng muốn được thử sức với thế giới bên ngoài thay vì cứ ở ru rú trong trường làm thực tập sinh.


Sau lễ tốt nghiệp anh trở về căn hộ để thu dọn đồ đạc. Nắng vàng tươi phản chiếu từ căn nhà gỗ cũ kĩ gần đó lọt qua cửa sổ làm hằn lên căn bếp những nếp gỗ xiêu vẹo. Từ đây anh có thể thấy những dãy nhà cao tầng san sát nhau của Shinjuku nhỏ bằng cục tẩy. Những tòa cao ốc trên hai trăm mét ở đây dùng tấm thân của nó mà thể hiện rất sinh động sự khác biệt của từng thời điểm trong ngày, mỗi mùa trong năm và cả những biến đổi thời tiết khác. Mỗi sáng, khi mặt trời vừa ló khỏi đỉnh núi là lúc các tòa nhà cao nhất thi nhau tỏa ra thứ ánh sáng lấp lánh hệt như những bờ đá ngấm nước ở biển. Những người khổng lồ lung linh vào buổi sáng ấy lại biến mất đầu tiên trong bầu sương nhợt nhạt của cơn mưa chiều…


Đã bốn năm trời anh nhìn ngắm cảnh sắc của thiên nhiên tồn tại trong từng tòa nhà ấy mà ngổn ngang với những suy tư.







Màn đêm buông xuống và đèn đường cũng vừa được bật lên. Với lấy cái gạt tàn, Takaki đặt nó lên một trong số những thùng các-tông đã chứa đầy mà hút một điếu thuốc. Trong căn phòng bấy giờ đã rộng rãi một cách lạ thường, anh ngồi bệt xuống sàn mà hướng đôi mắt vào cái nền đen của bầu trời vừa lóe lên tia sáng từ một vật thể bay nào đó.





Dù chuyển đi đâu mình sẽ vĩnh viễn sống trong thành phố này, một ý nghĩ từ đâu chợt thoáng qua anh. Takaki sớm kiếm được việc ở một công ty phần mềm cỡ trung ở Mitaka. Với tư cách là kỹ sư phần mềm anh được chọn vào bộ phận chuyên về mảng phát triển giải pháp phần mềm cho những phương tiện thông tin liên lạc. Khách hàng của bộ phận này đa phần là các công ty viễn thông và sản xuất thiết bị đầu cuối[2]. Nhóm của anh phụ trách phát triển phần mềm cho điện thoại di động.


Điều đầu tiên anh nhận ra khi bắt đầu đi làm là nghề lập trình hóa ra lại hoàn toàn phù hợp với anh. Một cái nghề đơn độc, dù nó đòi hỏi tính kiên nhẫn cùng khả năng tập trung cao nhưng kết quả thì không bao giờ bạc bẽo công sức đã bỏ ra. Khi một chương trình chạy không như ý thì anh có thể chắc chắn đó là sai sót của chính mình trong việc xây dựng các đoạn mã. Tất cả những suy nghĩ của anh đều để dành cho hàng trăm, hàng ngàn đoạn mã và điều đó làm anh thấy dễ chịu.


Công việc bận rộn tới mức hầu như mỗi ngày anh đều nửa đêm mới về đến nhà. Đôi lúc anh có thể được bốn năm ngày nghỉ để đi chơi đâu đó nhưng rốt cuộc vẫn lựa chọn ngồi trước màn hình máy tính hàng giờ đồng hồ như thể chẳng bao giờ là đủ. Trong căn phòng làm việc sạch sẽ và trắng toát, thu mình vào thế giới của các thông số với câu lệnh, ngày qua ngày âm thanh duy nhất Takaki nghe được là tiếng gõ bàn phím.







Takaki không biết là do tính chất công việc hay chỉ công ty anh mới gặp trường hợp này, đó là sự giao tiếp trực tiếp - nói trắng ra là nói bằng miệng - giữa các đồng nghiệp có lẽ là con số không : không tán gẫu, không ăn khuya, không nhậu nhẹt. Thậm chí trong giờ nghỉ nhóm của anh cũng chẳng ai bận tâm rời khỏi ghế ngồi khi mỗi người đều có một hộp cơm mua sẵn từ cửa hàng tiện lợi, rồi cứ thế tan sở thì mạnh ai nấy về chẳng cần chào hỏi gì sất. Số lượng những cuộc họp luôn được giữ ở mức tối thiểu nhất có thể, nếu không thì chỉ có e-mail là nơi thông báo.


Một tầng lầu với những phòng làm việc rộng lớn không khi nào ngớt tiếng gõ phím, thực sự đơn điệu đến mức mặc dù có cả trăm người đang làm việc ở đây thì cảm giác về sự tồn tại của con người gần như là không có.







Anh nhớ những đêm hàn huyên và say xỉn chẳng vì lí do gì hồi đại học nhưng rồi cũng bắt mình thích nghi với môi trường mới. Vả lại anh biết mình có phải là người hòa đồng đâu?


Kết thúc một ngày anh sẽ ngồi chuyến xe cuối cùng cùa tuyến trung tâm, đến nhà ga Shinjuku rồi về căn hộ ở Nakanosakaue sau ba mươi phút đi bộ, hôm nào quá mệt anh sẽ bắt taxi. Giá thuê căn hộ ở Mitaka rẻ hơn nhưng anh không thích sống gần công ty lắm. Hơn hết ở đây anh vẫn có thể nhìn thấy nhà ga Ikebukuro cùng những tòa cao ốc nhỏ xíu lấp lánh phía tây khu Shinjuku…


Khoảng thời gian ưa thích của anh là lúc chuyến xe đi ngang qua Ogikubo, nơi anh có thể nhìn ngắm những toà nhà gần và to hơn bất kì nơi đâu anh ở. Toa xe vắng tanh chỉ còn một người khách đang cuộn mình trong tấm áo khoác dày, đầu nặng trĩu áp lực từ một ngày bận rộn nhưng một cách nào đó lại thấy thoải mãn đến lạ. Cảnh vật vào thời gian này có sự hòa điệu giữa ánh sáng và âm thanh theo chu kỳ của xe chạy. Có lẽ hiếm nơi nào mà ban đêm lại có nhiều ánh sáng như ở Tokyo. Dưới mỗi ánh đèn vàng là bao nhiêu người còn làm việc khuya, chuỗi đèn đỏ trên thân chiếc máy bay sắp cất cánh nhấp nháy chậm rãi cứ như chúng có hơi thở…


Bao giờ Takaki cũng có cảm giác mình đang ngắm cái gì đó đẹp mà lại xa đến mức không thấy được. Tim anh bỗng xao động.




Sáng hôm sau Toono lại đến phòng làm việc với một lon cà phê mua ở căng tin công ty. Một quy trình quen thuộc bắt đầu : quét thẻ nhân viên để báo giờ vào làm, ngồi ghế, bật máy rồi vừa uống cà phê vừa kiểm tra lịch làm việc trong ngày. Màn hình vừa sáng cũng là lúc con trỏ di chuyển đến các biểu tượng mà mở ra một loạt cửa sổ cần thiết. Đôi tay sẽ thoăn thoắt trên bàn phím khi anh nghĩ ra vài giải thuật khả thi và bắt đầu cho chạy thử mấy cái giao diện lập trình ứng dụng (API)[3]. Lo xong cái API thì anh bắt đầu lập trình giao diện cho hệ điều hành, kiểm tra các phần mềm hỗ trợ khác và cuối cùng là mảng phần cứng phức tạp đến kinh dị.


Khả năng và niềm đam mê công nghệ của anh ngày càng nâng cao khiến anh khâm phục những gì mà một chiếc máy tính có thể làm được. Từng ngày từng ngày làm việc anh không thể không cảm thấy háo hức khi thấy mình hiểu nhiều về một công cụ quá ư là tuyệt với này. Cái gì lưu lại những phép đo thực tế chứng minh Thuyết tương đối[4] là đúng? Máy tính. Cái gì có thể xem xét các vấn đề vật lý lượng tử[5] dưới kích cỡ nano[6]? Máy tính. Cái gì mà nhờ nó lý thuyết siêu dây[7] đã được sinh ra và thống nhất tất cả? Lại là máy tính. Thứ máy móc anh ngồi đối diện hàng ngày là chiếc chìa khoá giúp con người mở ra bí mật của thế giới. Với Takaki bí mật đó có thể đưa anh về với những giấc mơ, những cảm giác anh đã mất từ lâu; vùng đất anh yêu mến, bài hát anh thích nghe vang lên sau giờ học và cả lời hứa với một cô gái anh không thực hiện nổi. Tất nhiên không có gì chứng minh là máy tính làm được điều đó nhưng trong lòng anh lại nhen nhóm một ý nghĩ kì quặc như vậy.




Anh tiếp tục đánh máy như người nhạc sĩ cô độc, đang phiêu trong bản nhạc cuộc đời bên chiếc dương cầm bầu bạn.







Cứ như thế mà bao nhiêu năm kể từ khi anh bước vào đời đã trôi qua trong một cái chớp mắt. Cậu bé Takaki yếu ớt dễ bệnh ngày nào giờ đã cao lớn, trưởng thành và là một lập trình viên đầy tài giỏi. Sự tín nhiệm của cấp trên cùng lương bổng chỉ biết tăng dần đều. Cứ ba tháng anh lại thưởng mình một bộ đồ mới. Vào ngày nghỉ anh tranh thủ dọn nhà cho thật sạch rồi đọc sách, hay lâu lâu lại rủ mấy người bạn cũ đi uống bia. Nhóm bạn của anh vẫn đầy đủ như xưa.




Tám giờ sáng cho đến một giờ khuya. Vòng xoay cuộc sống cứ thế mà tiếp tục.




Có một điều anh luôn băn khoăn là thứ cảm giác kì lạ mỗi khi nhìn ngắm toà cao ốc phía tây Shinjuku lấp lánh trong buổi bình minh. Rốt cuộc nó là cái gì nhỉ?





“Toono-san[8]!”




Lâu rồi không ai gọi như vậy. Một sáng chủ nhật mưa lớn, anh đang ở nhà ga Shinjuku thì nghe tiếng gọi từ một cô gái trông khá trẻ. Cô đeo kính và đang cầm một chiếc ô màu nâu xám. Ban đầu anh không nhận ra mặc dù có cảm giác chắc chắn là đã gặp cô ở đâu đó, rồi chỉ nhớ ra khi cô tiếp lời :


“… em bên nhóm bảo trì hệ thống này.”


“A! … bộ phận của chú Yoshimura phải không?”


“Em là Mizuno. Vậy là anh vẫn còn nhớ nhỉ?”


“Xin lỗi, lần đầu gặp em mặc vét … nên trông khác quá.”


“Ồ, và kì này có thêm cái mũ nữa đúng không? Còn em thì nhận ra anh ngay, anh diện đồ chỉnh chu như học sinh ấy!”


Giống học sinh thật sao? Chắc cô ấy đùa vì bộ dạng cô bây giờ trông còn học sinh hơn cả anh. Đi xăn-đan này, móng tay sơn màu hồng lợt và thêm một lớp sơn bóng này. Nãy cô vừa nói tên là… à Mizuno. Lần đầu tiên anh gặp cô là khi anh phải giao một số báo cáo cuối tháng cho đối tác và Mizuno ngẫu nhiên là người nhận. Họ có trao đổi card visit nhưng dĩ nhiên chỉ mang tính hình thức chứ không hề có ý định gặp lại, dù tác phong nghiêm túc và chất giọng trong trẻo của cô đã làm anh ấn tượng.


Đi cạnh cô anh cũng vừa nhớ ra tên đầy đủ của cô là Risa Mizuno, và cái cách anh để ý về phông chữ của tấm card visit khớp với tính cách chủ nhân nó thế nào. Cùng nhau họ đi xuống cầu thang rổi quẹo phải.


“Mizuno - san cũng về bằng cửa Đông luôn à?”


“Ưm… không hẳn.”


“Không hẳn là sao?”


“À, ý em là bây giờ em cũng khá rỗi, với lại mưa cũng vừa tạnh nên em nghĩ mình muốn đi mua sắm hay làm gì đó thay vì về nhà ấy mà,” cô cười nói. Anh liền đáp:


“Vô tình anh cũng chẳng có gì để làm, vậy em có muốn đi uống cà phê với anh không?”


Mizuno mỉm cười, có hơi ngạc nhiên một chút nhưng cô đồng ý. Vậy là trưa hôm đó họ tìm thấy một quán cà phê nhỏ ngay cạnh cửa Đông của nhà ga mà ngồi trò chuyện suốt hai tiếng đồng hồ, trao đổi số điện thoại rồi chào nhau tạm biệt.


Khi  ghé vào hiệu sách trên đường về nhà Takaki cảm thấy cổ họng hơi tê và mệt mỏi. Đã quá lâu rồi anh được tỉnh táo mà nói chuyện vô tư đến thế. Mặc dù chỉ mới gặp Mizuno lần này là thứ hai nhưng anh thấy hai tiếng nói chuyện dường như vẫn chưa đủ đã. Có lẽ cũng nhờ nhóm của anh vừa làm xong một dự án lớn nên trong người cực kỳ nhẹ nhõm. Anh và cô đã nói về công ty, về hàng xóm và cả chuyện hồi học sinh nữa. Chẳng có nội dung gì trong cuộc trò chuyện đó là nghiêm túc cả. Sự hồn nhiên và óc hài hước của cô lại càng làm anh thấy thoải mái. Một cảm giác ấm áp ngỡ như đã mất từ lâu lắm rồi đang sống lại trong anh.


Một tuần sau anh gửi cho cô một e-mail mời đi ăn tối. Hôm đó anh ra sức hoàn thành công việc thật nhanh, gặp cô ở nhà hàng Kichijouji và hàn huyên đến mười giờ thì về. Ngay tuần sau đó đến lượt cô mời anh bữa tối, và tuần sau nữa là ngày nghỉ lễ, họ cùng nhau đi xem phim, và cứ thế…


Rất tự nhiên và nhẹ nhàng, anh và cô cùng xích lại gần nhau.







Mizuno thuộc tuýp phụ nữ khiến người ta thấy dễ chịu khi tiếp xúc. Mái tóc dày cùng cặp kính khá to làm cô ấy trông bình thường nếu nhìn lướt qua, nhưng khuôn mặt xinh xắn núp đằng sau có thể làm lỡ nhịp tim của cả trăm đấng mày râu chứ chẳng chơi. Cô thường ăn mặc kín đáo cứ như là sợ người ta thấy mình đẹp vậy. Mizuno nhỏ hơn anh hai tuổi, chân chất và rất thật thà. Hầu như chuyện gì cô cũng chia sẻ với anh với giọng điệu chậm rãi từ tốn. Chưa bao giờ cô nói chuyện to tiếng.


Bên cạnh cô anh đang có được quãng thời gian yên bình nhất kể từ khi chuyển đến sống ở Tokyo này.


Căn hộ của Mizuno nằm ở quận Nishikokubuji nên để tới công ty thì cũng phải đi tuyến trung tâm, thế là chỉ cần muốn họ có thể gặp nhau ở một trạm nào đó trên tuyến đường ấy. Anh cảm nhận được tình cảm của cô dành cho anh khi hai bờ vai tựa vào nhau trên những toa xe chật kín, khi hai hộp cơm được san sẻ và những buổi tối đi dạo cùng nhau…


Một điều chắc chắn nếu một bên chủ động tỏ tình thì bên kia sẽ đồng ý ngay, nhưng anh lại băn khoăn không biết thổ lộ vào thời điểm này là nên hay không?







Takaki nhìn cô đi về hướng nhà ga Kikujouji. Anh đã từng quá nóng vội mỗi khi thích một ai đó, để rồi lại làm họ chán nản mà ra đi.


Anh không cho phép sai lầm đó lặp lại lần nào nữa.







Năm nay có một sự kiện rất được chờ đợi : chiếc tên lửa mang tên H2A đã được phóng lên vũ trụ thành công.


Takaki đang nằm trong phòng theo dõi sự kiện trên qua bản tin vô tuyến phát trực tiếp. Một đêm mưa tầm tã là kết quả của một ngày quá ư nóng ẩm. Mọi cửa sổ đều được đóng kín vì máy điều hòa đang bật, nhưng cũng không ngăn được thứ âm thanh hỗn loạn của mưa dội vào cửa kính cùng những chiếc xe lao xẹt qua con đường sũng nước. Trên màn hình xuất hiện hình ảnh đến từ Trung tâm vũ trụ Tanegashima. Chiếc tên lửa H2A đang phóng lên với những cột lửa khổng lồ phụt ra từ đuôi. Góc quay chuyển sang hướng khác cho phép người xem nhìn thấy thân hình vĩ đại của tên lửa từ từ xuyên thủng tầng mây đầu tiên. Góc quay lại chuyển tới một chiếc camera được gắn trên chính tên lửa. Có thể thấy toàn bộ hòn đảo Tanegashima giật lùi và thu nhỏ với tốc độ đáng ngạc nhiên.


Hình ảnh ngôi trường cao trung nằm sát bờ biển hình như cũng lướt qua trong nháy mắt.




Anh khẽ rùng mình.




Takaki không biết anh nên có cảm giác gì khi thấy những hình ảnh như vậy. Tanegashima đã không còn là nhà vì ba mẹ anh đã chuyển đến Nagano và có thể sẽ sống luôn ở đó. Tanegashima chỉ còn là hoài niệm về một nơi gia đình anh từng sống.


Anh uống một ngụm bia, thứ chất lỏng vàng óng khiến cổ họng anh cay xè mà nhỏ từng giọt nhiệt ấm nồng xuống bao tử. Cô phóng viên tiếp tục giới thiệu chiếc vệ tinh mà tên lửa có nhiệm vụ mang lên vũ trụ là loại vệ tinh địa tĩnh…




Tanegashima trong lòng anh thật sự chỉ có thế thôi sao?







Lần đầu tiên cũng là lần duy nhất Takaki được trực tiếp ngắm tên lửa phóng lên từ đảo là lúc anh mười bảy tuổi, cùng một người con gái. Dù không học cùng lớp nhưng anh và cô lại khá thân với nhau. Nói đúng hơn… là cô ấy chủ động kết thân với anh trước.




Cô bé dễ thương có làn da rám nắng và thích lướt sóng ấy tên là Kanae Sumida.




Nỗi đau về khoảng thời gian bên Kanae lại bắt đầu day dứt trong lòng Takaki dù lần cuối anh gặp cô đã gần mười năm trước. Tấm lưng nhỏ nhắn hay ướt đẫm mồ hôi. Giọng nói, nụ cười của của cô bé Kanade mười bảy tuổi tràn đầy trong tâm trí anh. Anh cảm thấy hối hận lắm nhưng vẫn nghĩ quyết định hồi đó là đúng đắn. Không có cách nào khác. Làm sao mà anh không nhận ra cô ấy đã thích anh như thế nào, đã cố thổ lộ với anh như thế nào? Làm sao mà anh không nhận ra mình đã cản cô ấy vào ngay thời điểm đó như thế nào, và nhìn một Kanae sau khi đã từ bỏ như thế nào chứ?


Anh biết hết và nhớ hết như tất cả chỉ là ngày hôm qua, nhưng thật sự anh không thể làm gì cả.




Người duy nhất được biết ngày anh ra sân bay để vào Tokyo học đại học chính là Kanae. Một ngày tháng ba đầy nắng và gió, ở bãi đậu xe trong sân bay họ trao cho nhau những lời cuối cùng. Từ đầu đến cuối cuộc nói chuyện cô ấy không thể ngừng khóc, nhưng ngay trước lúc chia tay cô đã cố gắng mỉm cười. Lúc đó anh cảm thấy cô gái trước mặt mình thật mạnh mẽ và chững chạc, mạnh mẽ hơn cả anh…




Mình có dành được một nụ cười cho Sumida hay không? Anh chẳng còn nhớ được nữa.







Đã hai mươi phút quá nửa đêm.


Anh cần phải ngủ để ngày mai đi làm. Bản tin đã kết thúc và bây giờ trên màn hình là chương trình quảng cáo. Takaki tắt TV rồi đi đánh răng. Anh chỉnh thời gian tự động tắt của máy điều hòa là một tiếng nữa, tắt đèn và leo lên giường ngủ. Ánh sáng từ chiếc di động báo hiệu có một tin nhắn mới. Anh bật lên màn hình sáng loá và để quầng sáng lờ mờ của nó lan ra khắp phòng.


Đó là lời mời ăn tối của Mizuno.  Anh xoay người sang một bên rồi nhắm mắt lại.




Mọi hình khối và kiểu mẫu xuất hiện trước mặt anh một cách kì diệu. Một người đã từng cho anh biết sự kết hợp giữa mi mắt và con ngươi có thể điều chỉnh được ánh sáng đến võng mạc khiến người ta cảm nhận được ánh sáng ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng cũng vì thế mà con người không bao giờ nhìn thấy bóng tối thật sự. Anh không nhớ người đó là ai.




Takaki nhớ lại khoảng thời gian anh có thói quen nhắn tin mà không gửi. Những tin nhắn ấy là dành cho một cô gái đặc biệt nhưng anh không biết số của cô. Họ đã mất liên lạc trước cả khi họ nhận ra điều đó. Dù vậy anh vẫn cứ tiếp tục, cố gắng truyền tải tất cả những yêu thương của anh dành cho cô qua từng dòng tin nhắn, để rồi khi viết xong lại xóa hết tất cả. Thói quen ấy như là một sự chuẩn bị vậy, chuẩn bị cho một hành trình đơn độc tiến ra một thế giới rộng lớn.




Dần dà đích đến của các tin nhắn thậm chí còn không phải là một người cụ thể mà trở thành cuộc độc thoại, và thế là anh cũng bỏ. Đó là lúc anh biết mình đã sẵn sàng cho cuộc hành trình đó.




Anh sẽ không gửi một bức thư nào cho “cô ấy”.




Và anh cùng sẽ chẳng nhận được bức thư nào từ “cô ấy” nữa. Nghĩ đến thôi cũng làm anh đau khổ và phẫn nộ vô cùng. Anh không ngờ những cảm xúc ấy vẫn nằm trong tâm trí, có nghĩa là mười năm trôi qua chẳng khiến anh thay đổi được gì. Anh vẫn là một thằng bé ngu ngốc, lạnh lùng và tàn nhẫn của ngày xưa. Hai mắt vẫn nhắm sát. Không… ít nhất thì từ giờ anh đã biết ai là người quan trọng đối với mình.




Anh yêu Mizuno!




Lần hẹn sau anh sẽ thổ lộ điều đó. Với quyết định trên anh lập tức hồi âm đồng ý. Anh sẽ đối diện với cảm xúc thật của mình, giống như những gì Sumida đã làm vào cái ngày chia tay ấy…







Sân bay.


Mái tóc, vạt áo của Sumida hòa trong một vũ điệu mãnh liệt của gió biển và cỏ xanh, hòa trong những giọt nước mắt và một nụ cười.





“Em sẽ mãi yêu Toono-kun. Cám ơn anh vì tất cả!”



Năm thứ ba làm việc của Takaki chứng kiến một bước ngoặt không tốt đẹp cho lắm.


Một trong những dự án dài hơi của nhóm đã tự mất đi mục đích của nó. Chỉ tiêu bị hạ xuống đột ngột và cấp trên đã quyết định bỏ luôn dự án. Takaki được trưởng nhóm giao nhiệm vụ cứu vớt tất cả những đoạn chương trình còn tái sử dụng được trong tương lai để gỉam thiệt hại xuống tối thiểu. Trưởng nhóm là người hiểu rõ nhất năng lực của anh nhưng lần này lại đang đẩy anh vào một sự gian khổ đầy vô lý.


Ban đầu Takaki làm đúng theo những gì được giao. Nhưng từ lâu anh đã sớm nhận ra công việc tách riêng từng đoạn chương trình là cực kì phức tạp và chỉ làm tình hình tồi tệ thêm. Anh đã thất bại trong việc trình bày quan điểm đó với trưởng nhóm và hậu quả là cả một tháng phải làm việc ngoài giờ.


Trong tháng đó, ngoài mặt thì làm theo nhưng Takaki vẫn âm thầm cố gắng giải quyết tình hình theo cách mà anh cho là đúng. Nhưng đây là công việc của một tập thể, cái dự án thất bại này sẽ còn là gánh nặng nếu cả nhóm không làm theo cách của anh. Vậy nên anh đã cố gắng thuyết phục trưởng nhóm một lần nữa và nhận những cái mắng té tát cùng một lời cảnh báo : “Đừng bao giờ làm việc một cách ích kỷ như vậy!”


Một mình đối đầu với trưởng nhóm là hạ sách và đương nhiên anh không có sự hưởng ứng từ các thành viên còn lại. Dự án sẽ không bao giờ kết thúc. Việc xử lí những yêu cầu đặt ra ngay từ bước đầu đã có vấn đề và khi họ chưa nhận ra điều đó thì những cố gắng tiếp sau chỉ làm cho mọi việc trở nên rối rắm hơn. Ngày qua ngày anh bất lực nhìn cả nhóm sắp vượt quá lằn ranh có-thể-sửa chữa-lại-từ-đầu.


Không đời nào dự án còn cứu vãn được nữa.


Dù vậy anh quyết định xin gặp trưởng bộ phận để trao đổi về việc này lần cuối. Ông kiên nhẫn nghe anh trình bày nhưng cuối cùng lại khuyên anh “nên hỗ trợ trưởng nhóm để dự án sớm được kết thúc.” Vậy là hết cách.




Ba tháng tiếp theo công việc vẫn dậm chân tại chỗ. Takaki hiểu trưởng nhóm thực lòng muốn kết thúc dự án như thế nào nhưng anh không thể đứng nhìn bao nhiêu công sức của nhóm đổ sông đổ biển như vậy. Anh tiếp tục làm theo cách của mình và không màng gì đến những cơn thịnh nộ của trưởng nhóm lẫn những lời khuyên bảo vô ích của trưởng bộ phận. Anh trở thành chiếc bánh răng lạc lõng trong guồng quay. Anh hút thuốc nhiều hơn, nốc bia nhiều hơn mỗi tối trở về nhà.


Một ngày nọ vì không chịu được nữa, anh yêu cầu trưởng bộ phận cho chuyển công tác sang nhóm khác hoặc, ít nhất là ba mặt một lời nói chuyện lí lẽ với trưởng nhóm nếu không anh sẽ nghỉ việc. Cuối cùng một trưởng nhóm mới được bổ nhiệm, người chỉ huy này rất tài năng trong công việc và giữ một thái độ lạnh nhạt nhất định đối với thành viên khác, nhưng những quyết định của ông là có lý hơn nhiều. Mọi thứ đã ổn thỏa và anh tiếp tục trở lại với công việc. Nhiệm vụ được giao ngày một nặng hơn và trong một không gian cô độc anh vẫn ra sức như một con thiêu thân chỉ biết lao vào công việc.




Anh đang làm tất cả những gì mình có thể.




Sự an ủi lớn nhất anh có được trong thời điểm này chính là Risa Mizuno, ngày càng nhiều thời gian anh dành ra để được ở bên cô. Mỗi một hay hai tuần anh lại bắt xe đến Nishikokubuji và gặp cô lúc chín giờ ba mươi tối. Thông thường anh sẽ mang theo một bó hoa. Trớ trêu ở chỗ chẳng có tiệm hoa quanh đây nào còn mở sau tám giờ, đồng nghĩa với việc anh phải “trốn” khỏi công ty để mua hoa, rồi quành lại… làm việc tiếp, đến tám rưỡi tan ca thì hộc tốc chạy đến nhà ga. Mệt nhưng cái trò trốn việc cũng thật là thú vị. Anh cẩn thận nâng niu bó hoa mà hoà vào dòng người đông đúc hướng về tuyến trung tâm.


Thông thường mỗi thứ bảy anh đến ở nhà Mizuno nhưng cũng có lúc cô chủ động tới nhà anh. Lavabô hai nhà đều có hai cây bàn chải đánh răng, và trong khi anh để khá nhiều quần áo, thậm chí cả đồ lót, ở nhà cô thì phân nửa số nồi niêu xoong chảo của cô lại an vị trong chạn bát nhà anh. Nhìn đống tạp chí của cô để đầy trong phòng làm lòng anh cảm thấy thật ấm áp…


Nhưng dù ai đến nhà ai đi nữa thì Mizuno cũng là người làm bữa tối. Anh thích nghe tiếng dao thái rau xoành xoạch hoà với âm thanh ro ro từ chiếc quạt thông gió, thích ngửi hương canh súp thanh mát cùng mùi cá chiên hăng nồng. Anh cũng tranh thủ làm việc khi cô đang nấu ăn.


Thật kì lạ! Tiếng gõ phím sao lại vui tai thế?

Có lẽ trong đời anh chưa từng được thoải mái như lúc này.




Rất nhiều kỉ niệm và hình ảnh của Mizuno được lưu giữ trong anh. Anh có thể nhớ từng bữa tối đã say sưa nhìn cô tách xương cá thu hay dùng nĩa cuộn từng sợi mỳ Ý gợi cảm như thế nào. Anh yêu cả đôi bàn tay sơn móng màu anh đào với những ngón thon thả nhẹ nhàng ôm lấy tách cà phê, gò má ửng hồng cùng cặp môi nhỏ nhắn mà ngọt ngào cùng mái tóc thật thơm. Anh còn yêu cả cái bệnh hay chảy mồ hôi tay và từng hơi thở sâu của cô. Anh yêu tất cả những gì thuộc về cô.







Anh tắt đèn rồi nằm lên giường. Từ đây anh có thể thấy một bầu trời đầy sao ngoài cửa sổ. Những vì sao thường trở nên đặc biệt lấp lánh vào mùa Đông khi bầu trời thường rất quang. Ngoài kia chắc chắn là cực lạnh nên thật may mắn khi được ấm áp trong đây, cùng với Mizuno đang tựa đầu vào vai anh. Bỗng dưng có tiếng còi tàu sao mà trầm đục như được phát từ một nơi xa xôi nào đó, để hơn một lần anh nghĩ ngợi bâng quơ...


Cái nơi tận cùng kia là dành cho mình chăng?



Nếu số phận muốn anh trơ trọi trong thế giới này, thì Mizuno là niềm hy vọng duy nhất giúp anh chống lại nó.







Chia tay Mizuno là lần đầu tiên anh nghĩ mình đã chìm vào bóng tối thật sự.




Ba năm là một quãng thời gian quá dài và quá hạnh phúc để họ có thể bồi đắp thêm tình cảm, nhưng con đường họ cùng đi vẫn cứ bị chia đôi. Cái cảm giác mệt mỏi cứ nặng nề đeo bám mỗi khi anh nhận ra mình đã lại sống trong đơn độc.


Không có gì thực sự xảy ra, và chẳng có gì đã xảy ra đủ nghiêm trọng để chia cắt họ cả. Đó chỉ là một tất yếu khi tình cảm con người cũng biết héo úa như cây cỏ…







Trời đã về khuya, nằm trong phòng Takaki chăm chú lắng nghe tiếng xe chạy mà đắm mình trong dòng suy tư. Anh thu lượm tất cả những ý nghĩ, những mảnh vỡ và những sai lầm. Liệu việc này có còn ích gì không? Cuối cùng những người anh yêu cũng rời xa anh hết. Anh đã dặn mình phải quen với mất mát kia mà?




Chẳng phải đó là cách mình chống chọi với cuộc sống sao?




Gần như cùng thời điểm chia tay Mizuno, anh nghỉ việc.




Anh không chắc hai việc có liên quan với nhau hay không. Những tâm sự thường sẻ chia với Mizuno chỉ là bề nổi của cái gì đó dang dở anh không thể tả bằng lời. Vẫn có một bức màn che giấu thứ cảm giác cứ ngỡ đã trôi vào quên lãng.


Suy ngẫm về hai năm làm việc cuối cùng chợt thoáng qua tâm trí trước khi anh chìm vào giấc ngủ…




Hai năm qua Takaki đã không còn bất ngờ với những biến đổi của cảnh vật xung quanh và hành động của anh đều in vết của những dự tính ngày hôm qua. Anh sống và làm việc như một cái máy. Anh thấy mình chẳng khác gì những chiếc xe điện được lập trình sẵn để dừng và đi, chẳng cần biết tốc độ thế nào, chẳng cần nghĩ phải quẹo ra sao…




Và chẳng cần nói với ai bất cứ cái gì hết.




Hai năm ấy anh cũng không còn sự say mê khám phá về khoa học công nghệ hay niềm vui trong nghề lập trình nữa. Những mảnh trời đầy sao anh từng thích ngắm đã trở nên tầm thường và buồn chán.


Hai năm với sự thăng tiến vượt bậc trong công việc. Tiền lương và tiền thưởng của anh là nỗi ghen tị của biết bao đồng nghiệp khác. Anh đã bận đến nỗi không kiếm được thời gian để xài tiền, và trước khi nhận ra điều đó anh đã tích cóp được một số tiền quá lớn khiến chính anh khi nhìn vào cuốn sổ tiết kiệm còn không tin được.







Trong phòng làm việc Takaki đang nhâm nhi một lon cà phê ấm. Vẫn nghe những tiếng gõ phím quen thuộc anh đang chờ đoạn mã vừa làm xong được biên dịch. Thật tức cười, anh nghĩ vậy. Chẳng có gì khiến anh phải tiêu xài nhiều vậy mà trước đến giờ anh lại cứ bù đầu vào kiếm tiền. Anh đã từng đùa với Mizuno về chuyện đó, cô cười nhưng sau đó lại biểu lộ một gương mặt lo lắng.


Đúng thế, nó chẳng hề vui chút nào cả.







Buổi tối,


Qua khe cửa cơn gió đầu thu mát lạnh lùa vào trong chiếc áo sơ-mi xanh thẫm đã tháo cà vạt khiến anh thấy dễ chịu. Ngồi đối diện là Mizuno, cô mặc đầm và khoác một chiếc áo len nâu. Một thời gian dài không ai đến nhà ai... đúng hơn là đã hai tháng. Cả hai không thể cùng quá bận, chỉ là không còn cố gắng để được ở bên nhau mà thôi.


“Này Takaki-kun. Hồi bé anh có ước mơ sau này sẽ làm gì không?”


Mizuno hỏi sau khi nghe anh cằn nhằn về công việc. Anh suy nghĩ một chút rồi nói :


“Anh không nghĩ mình đã muốn tương lai thành cái gì cả.”


“Không gì hết sao?”


“Ừ. Đối với anh sống qua khoảng thời gian đó đã là một nỗ lực không nhỏ rồi.”


Mizuno cười, cô lấy một miếng lê mà nhai ngon lành.


“Em cũng vậy.”


“Thật à?”


“Thật đấy. Hồi đó em sợ nhất là bị hỏi câu này ấy chứ. Vì thế sớm kiếm được một công việc khiến em cảm thấy nhẹ nhõm hẳn, bởi vì từ đây mình chẳng phải nghĩ gì về tương lai nữa.”


Anh đồng tình và tự lấy cho mình một miếng lê.




Anh muốn thành cái gì ư?




Có lẽ anh đã luôn trăn trở về một nơi mình thực sự thuộc về. Anh chưa tim thấy nó, cũng vì thế mà anh chẳng thực sự theo đuổi điều gì cả. Anh cũng không tìm thấy con người thật của mình. Anh mãi chôn chân ở giữa con đường dẫn đến một thứ gì đó mà chính anh cũng không rõ.


Điện thoại của cô vang lên. Anh đốt một điếu thuốc và nhìn cô đi ra ngoài hành lang. Mizuno trông có vẻ vui lắm. Bất giác anh lại thấy đố kị cái người ở đầu dây bên kia. Anh tưởng tượng ra một người đàn ông lạ hoắc đang luồn tay dưới lớp áo khoác của cô mà chạm vào làn da trắng mịn, mân mê.


Anh cảm thấy điên tiết.


“Cô bé cấp dưới gọi cho em ấy mà.” Cô trở vào sau khoảng năm phút trò chuyện. Anh tự giận mình thật vô lý khi suy diễn như vậy. Mizuno chẳng làm gì sai cả. Anh gật đầu và thô bạo dụi điếu thuốc xuống gạt tàn đến nát bấy.


Mình làm sao thế này?

Sáng hôm sau anh đang ngồi ở bàn ăn. Cũng lâu rồi anh và cô không có dịp cùng ăn sáng.


Anh nhìn qua cửa sổ và thấy một bầu trời xám xịt. Buổi sáng chủ nhật lạnh như băng này cô nấu cho anh một bữa thật ngon.


Nhìn cô phết trứng ngoáy lên nửa miếng bánh mì nướng bỗng dưng anh có dự cảm đây sẽ là bữa sáng cuối cùng anh và cô ăn cùng nhau. Chẳng có gì bất thường xảy ra nhưng anh lại linh tính như vậy. Dĩ nhiên anh không hề muốn thế, chủ nhật  tuần sau anh sẽ lại ở nhà Mizuno và ăn sáng vui vẻ cùng cô ấy, và cứ thế…




Điều đó đã không xảy ra. Đó thực sự là bữa ăn sáng cuối cùng.







Takaki xin thôi việc khi còn ba tháng nữa là đến hạn hoàn thành dự án.


Qua cuộc nói chuyện với trưởng nhóm anh bày tỏ ý muốn sẽ cùng nhóm hoàn thành dự án, sau đó dành thêm một tháng nữa để giải quyết những việc còn tồn đọng và như vậy anh sẽ ra đi vào tháng hai năm sau. Trưởng nhóm không bộc lộ bất kì cảm xúc nào mà bảo anh muốn nghỉ thì đi mà nói với trưởng bộ phận.


Dĩ nhiên trưởng bộ phận đã cố gắng thuyết phục anh ở lại. Ông hứa sẽ đứng ra giải quyết tất cả những gì khiến anh không hài lòng trong công ty vì không muốn mất một kĩ sư phần mềm tài năng như anh. Ông khuyên Takaki hãy kiên nhẫn, có thể dự án hiện tại rất khó khăn nhưng một khi nó được hoàn thành có thể anh sẽ được thăng chức và công việc sẽ nhàn hạ hơn nhiều…




Có thể… đúng là có thể đấy, nhưng hãy cho tôi được sống cuộc đời của mình!




Takaki lịch sự trả lời rằng anh không có rắc rối gì trong công ty cả. Dự án hiện tại với anh cũng chẳng là vấn đề. Đơn giàn chỉ là anh không muốn làm nữa. Trưởng bộ phận không chấp nhận đơn từ chức và yêu cầu anh đưa ra một lý do rõ ràng hơn thế.




Buồn cười! Chính mình còn không biết cơ mà?



Sau một hồi thương lượng nữa cuối cùng ông ấy đành chấp thuận cho anh nghỉ vào cuối tháng giêng năm sau.







Càng về cuối thu trời càng lạnh, Takaki cố gắng hoàn tất cái dự án cuối cùng này nhanh hết mức có thể. Anh bận đến mức hầu như không thèm nghỉ ngơi và chính sự thiếu ngủ làm cho anh cảm thấy cơ thể mình nặng nề và nóng ran như bị sốt. Thậm chí anh còn bắt đầu mắc chứng say xe nặng. Anh cũng chuẩn bị tinh thần để một lần nữa chịu sự lạc lõng trong nhóm nhưng thực tế lại trái ngược hẳn. Trưởng nhóm bắt đầu nói chuyện nhiều hơn với các thành viên, trưởng bộ phận thì chỉ sợ anh đầu quân cho công ty khác vì được nhận nhiều lương hơn trong khi trưởng phòng nhân sự lại vui vẻ hứa sẽ tư vấn cho một chỗ tốt khi anh muốn làm việc trở lại. Takaki không nghĩ ngợi nhiều trong thời gian này, anh chỉ muốn làm thật tốt để ngẩng cao đầu rời công ty.


Sau một trận bão lớn là vô vàn những luồng gió mạnh kinh hồn đặc trưng của vùng Kansai. Takaki quyết định mặc thêm áo khoác. Chiếc áo lâu rồi không dùng đã ảm mùi long não nồng nặc từ ngăn kéo. Anh cũng mang theo chiếc khăn choàng cổ Mizuno tặng từ lâu mà bước ra ngoài trời đông lạnh giá.




Anh không được nghe câu “Đi đường cẩn thận nhé!” nữa.




Liên lạc giữa anh và Mizuno chỉ còn qua điện thoại. Khoảng cách giữa các tin nhắn và hồi âm cứ ngày càng xa dần… cho đến khi anh nhận ra đã thêm ba tháng nữa họ không gặp nhau.







Tối nọ, ngồi trên chuyến xe cuối cùng trong ngày của tuyến Trung tâm Takaki lơ đễnh phát ra một tiếng thờ dài, rất dài.


Chuyến xe muộn hướng về trung tâm Tokyo thật vắng khách nhưng đặc quánh bởi mùi cồn cùng sự mệt mỏi của con người. Vẫn là những cao ốc, là tiếng rầm rập của những khối sắt thép đang chạy trên đường ray. Tự dưng anh cảm thấy có ai đang theo dõi anh từ trên không trung. Ánh đèn điện chiếu qua các ô cửa kiếng của một một toà nhà đặc biệt cao thi nhau sà xuống, làm một khoảng đất rộng trông như một tấm lưới mắt cáo khổng lồ.


Gió thổi mạnh đến độ làm cho hàng triệu bóng đèn của thành phố chao đảo và lấp lánh trước mắt anh như những vì sao. Anh bị mê hoặc bời thứ ánh sáng đó mà suýt không nhận ra xe đã về đến ga Shinjuku. Anh đứng dậy mà không thể ngăn mình quay lại…


Đâu đó trong thâm tâm anh nhìn thấy một cậu bé đã từng ngồi trên chính chiếc ghế này, mệt mỏi và tuyệt vọng.







Tin được không? Tận bây giờ Takaki vẫn không nghĩ mình đã quen với cuộc sống ở Tokyo. Từ hàng ghế ngồi chờ xe, dãy máy bán vé tự động đến dòng người chen chúc trong nhà ga, mọi thứ vẫn lạ lẫm và khó chịu như cái lần đầu tiên ấy.







Tháng mười hai qua đi cũng là lúc dự án kéo dài hai năm của nhóm anh chính thức kết thúc. Nhìn lại anh ngạc nhiên vì mình chẳng có cảm giác gì cả, hoạ chăng là mệt hơn bình thường mà thôi. Anh uống hết lon cà phê, bắt tay vào thu dọn đồ đạc và rời công ty. Lại là chuyến xe cuối cùng trong ngày.


Trở về ga Shinjuku anh đi đến chỗ đợi taxi và thấy một hàng người dài ngoằng. Thứ sáu… vậy đêm nay là Giáng sinh. Hèn chi anh nhớ mình đã lờ mờ nghe được giai điệu quen thuộc của bài Jingle Bells khi vừa xuống xe. Thế là anh quyết định không chờ taxi mà hướng ra cửa Tây.




Dọc theo những toà nhà chọc trời, giữa một bầu không khí quá yên tĩnh anh đi trên lộ trình quen thuộc dẫn về nhà. Chiếc điện thoại trong túi anh rung lên. Một cuộc gọi từ Mizuno.




Anh đã không bật máy, vì lý do nào đó anh không thể và không muốn trả lời. Anh nhìn vào màn hình LCD sáng lên dòng chữ “Risa Mizuno” mà trong lòng đau nhói. Chiếc điện thoại rung một hồi rồi tắt. Nó nằm bất động trên tay anh như một con vật vừa mới chết.


Takaki cảm nhận một hơi nóng trào lên trong người khi anh ngửa mặt lên, nhìn bầu trời sau khi bị những gã khổng lồ ở hai bên che khuất chỉ còn lại một khoảng. Chút ánh sáng từ một chiếc máy bay nhanh chóng bị lẫn vào cái nền đen đặc quánh đã vắng hết sao…


Thế rồi từ trong thinh không những bông tuyết bé xíu xuất hiện. Tuyết rơi rồi!




Chỉ một câu nói ấy, anh thầm nghĩ.




TÔI MUỐN NGHE! CHỈ MỘT CÂU ẤY THÔI! TẠI SAO KHÔNG AI CÓ THỂ NÓI CHO TÔI VẬY? CHỈ LÀ MỘT CÂU NÓI THÔI MÀ? Anh điên cuồng với cái ước vọng ích kỷ đó nhưng làm sao anh có thể sống tiếp khi không còn nghe được câu nói ấy? Rốt cuộc anh đã nhận ra điều anh tìm kiếm bấy lâu trong tuyệt vọng. Những bông tuyết đầu mùa đã xé toang bức màn cuối cùng ấy, mà hiện ra trong anh những lời nói của một cô bé mười ba tuổi…




“Takaki-kun, tớ chắc chắn rằng cậu sẽ khỏe mạnh! Tớ biết chắc rằng cậu sẽ được hạnh phúc!” Akari Shinohara tìm thấy một lá thư rất cũ khi cô đang thu dọn đồ đạc. Cô sắp chuyển đi nơi khác.


Lá thư nằm sâu trong chiếc thùng các-tông có ghi dòng chữ “Đồ cũ” mà cô nhận ra là nét chữ của mình. Tò mò cô mở nó ra, chiếc thùng chứa mọi thứ cô giữ lại từ hồi tiểu học cho đến khi tốt nghiệp sơ trung : những quyển lưu bút, những tấm bưu thiếp trong những chuyến dã ngoại với trường, một chồng tạp chí cô từng thích đọc và còn có mấy cuộn băng cát-xét mà cô không còn nhớ đã ghi lại cái gì. Lần lượt từng thứ được lấy ra trước khi chỉ còn lại một cái hộp đựng bánh quy ở đáy thùng. Đúng vậy, lá thư cô viết vào ngày tốt nghiệp tiểu học đã được bỏ vào cái hộp thiếc ấy. Đó là lá thư đã nằm trong cặp và bên cô suốt bao năm tháng cho đến tận cái ngày chiếc thùng được đóng lại mà chìm trong quên lãng.


Cô gỡ nắp và nhìn thấy lá thư kẹp trong một cuốn tập mỏng. Đó là bức thư tình đầu tiên cô từng viết…




Đã gần mười lăm năm trôi qua kể từ ngày lá thư được viết mà cô đã định sẽ trao nó cho cậu bé cô yêu. Cô nghĩ về người ấy mà nhớ về một trời đêm đầy tuyết.




Tụi mình mới mười ba tuổi và cậu ấy đã vượt qua một quãng đường rất dài để đến gặp mình.

Thông thường chỉ mất khoảng ba tiếng, nhưng hôm đó tuyết rơi dày nên cậu đã đến muộn hơn dự tính tận bốn tiếng đồng hồ nữa.

 Mình đợi cậu ấy trong một căn phòng làm bằng gỗ, ngồi cạnh chiếc lò sưởi dầu tỏa thứ nhiệt đầy ấm áp mà viết lá thư này.

Cầm lá thư lên khiến cô cảm thấy những cảm giác cô độc và lo âu trước đây trở về trong tâm trí. Khó mà tưởng tượng đã mười lăm năm rồi. Thứ cảm giác yêu thương cô dành cho cậu ấy và cô đã muốn gặp cậu đến nhường nào sao vẫn tươi mới đến mức làm cô khó chịu.




Mình chắc hẳn đã yêu cậu ấy lắm, cô nghĩ vậy.


Tụi mình đã hôn nhau vào đêm hẹn hò đầu tiên. Hình như toàn bộ thế giới đã thay đổi chỉ sau nụ hôn ấy và điều đó khiến mình không thể trao đi lá thư…



Dòng hồi ức cứ thế mà ùa về. Có lẽ bằng chứng duy nhất cho sự thay đổi của cô sau mười lăm năm là chiếc nhẫn ở ngón áp út.







Iwafune ngày hôm sau có tuyết rơi khi Akari đi bộ đến nhà ga. Qua lớp mây khá mỏng cô có thể thấy một bầu trời trong vắt. Cũng lâu rồi ở đây mới có tuyết ngay từ tháng mười hai thế này, cả những cơn bão lớn nữa.


“Ước gì con ở đến Tết nhỉ.” Mẹ cô nói.


“Tụi con còn nhiều thứ phải chuẩn bị lắm mà mẹ,” Akari trả lời.


“Ừm. Nhớ phải nấu cho cậu ta một bữa thật ngon đấy,” đến lượt ba cô nói. Akari gật đầu và nhìn hai người đang đứng trước mặt cô.




Thời gian qua nhanh thật, ba mẹ đã già và sắp đến tuổi về hưu, còn mình thì sắp đi lấy chồng…




Một cảm giác kì lạ khi ba người đang chờ chuyến xe đi đến Koyama. Kì thực đây là lần đầu tiên cả gia đình cùng đứng ở nhà ga như thế này.


Akari vẫn còn nhớ cái ngày cùng mẹ đi từ Tokyo đến đây và ba cô đã đợi sẵn ở nhà ga. Cô từng được đi Iwafune rất nhiều lần do đó là quê của ba, một nơi buồn tẻ nhưng cũng khá thích hợp cho những ai yêu sự thoải mái. Dĩ nhiên đến chơi và sống hẳn là hai chuyện hoàn toàn khác. Iwafune quá đơn sơ và nhỏ bé so với Uchinomiya nơi cô sinh ra, Shizuoka nơi cô chuyển đến không lâu sau hay Tokyo nhộn nhịp nơi cô đã trải qua ba năm tiểu học đầy kỉ niệm. Cô không nghĩ rằng mình có thể sống ở đây. Những kí ức về Tokyo biết bao lần đã làm cô rơi nước mắt…




“Có gì là phải gọi cho ba mẹ ngay đấy nhé.” Mẹ cô đã dặn đi dặn lại câu này suốt từ tối hôm qua. Bỗng dưng Akari cảm thấy cái trị trấn nhỏ này sao mà thân thương thế? Nhưng bây giờ cô phải đi rồi. Cô nở một cụ cười thật tươi.


“Tụi con sẽ ổn mà, tháng sau đám cưới cũng gặp lại nên ba mẹ đừng lo nghĩ nhiều quá. Với lại trời lạnh hơn rồi, ba mẹ cứ về trước đi.”


Vừa dứt lời cô nghe thấy tiếng còi xe vang lên từ đằng xa…







Chuyến tàu chiều chỉ có một hành khách. Nhận thấy mình chẳng thể tập trung vào cuốn tiểu thuyết nên Akari đành đóng nó lại và nhìn ra cửa sổ.


Những cánh đồng mới gặt xong hiện lên thật hoang sơ trước mắt. Cô tưởng tượng đêm nay tuyết sẽ phủ trắng cả một vùng rộng lớn và ánh đèn từ mấy nhà kho để nông cụ sẽ như những con đom đóm, cái cửa kính cô đang nhìn qua đây sẽ phủ đầy sương…


Chắc hẳn là buồn lắm. Cô tự hỏi khung cảnh đó có phải là thứ “cậu ấy” đã nhìn khi chiếc xe bị dừng lại giữa cơn bão tuyết, khi dạ dày thì trống rỗng, tâm trí thì tràn đầy tội lỗi vì để cho một người phải đợi?




… có lẽ.

Và chỉ có lẽ thôi, là người ấy đã mong mình hãy về đi. Cậu ấy rất đỗi ân cần. Không sao cả, mình sẽ ngồi đợi dù cậu ấy có đến trễ bao lâu đi nữa. Mình tin cậu ấy!

Ước gì lời nói của cô đến được với cậu ấy.


Nếu cậu có thể nghe, cô sẽ nói : “Đừng lo nhé, người thích cậu vẫn đang chờ ở đây.”


“Cô bé ấy biết cậu sẽ đến. Đừng tự dằn vặt mình. Hãy nghĩ đến khi gặp nhau hai người sẽ hạnh phúc đến nhường nào. Dù đây có thể là lần cuối… nhưng xin cậu, xin cậu hãy mãi mãi trân trọng khoảnh khắc vô giá này.”




Cô cười, và không ngờ mình có thể suy diễn ra xa thế. Mình làm sao thế này? Từ hôm qua đến giờ chỉ nghĩ đến người ấy.

Chắc là do bức thư. Cô cảm thấy thật không phải khi cứ nghĩ về một người đàn ông khác trong khi sắp đến nhà chồng chưa cưới, nhưng chắc rằng chồng cô chẳng để ý đâu. Sau khi cầu hôn anh ấy đã chuyển từ Takasaki đến Tokyo để chung sống với cô.


Tính anh hay cằn nhằn nhưng mình yêu anh ấy, giống cái cảm giác “yêu” mình từng dành cho “cậu ấy” vậy. Như chất dinh dưỡng được hấp thụ hằng ngày, những kí ức hạnh phúc đã trở thành một phần gắn liền với da thịt, với máu mà không gì có thể tách rời khỏi trái tim mình cả.




Akari tiếp tục nhìn ngắm cảnh vật bên ngoài, cô thầm cầu nguyện cho Toono Takaki vẫn bình an. 



Còn sống là còn đau khổ.

Đó là điều Takaki Toono nghĩ đến khi bật đèn lên. Chỉ có hai thứ đang phủ kín căn phòng của anh : bụi, và nỗi buồn.


Chỉ còn lại một chiếc bàn chải đánh răng. Anh không phải dọn giường để tiếp ai đó đến chơi như trước. Cũng chẳng còn một danh sách dài các tin nhắn và cuộc gọi trong điện thoại của anh nữa.


Anh vừa mới về nhà, cởi cà vạt và treo áo khoác lên. Mizuno còn tổn thương hơn nhiều, anh nghĩ vậy trong khi lấy một lon bia từ tủ lạnh. Anh thực sự rất muốn xin lỗi. Anh không bao giờ có ý định làm cô đau khổ đến thế.




Trời đêm đã lạnh anh còn nốc một ngụm bia lạnh thật lớn như cố tình đuổi hết mọi nhiệt lượng ra ngoài cơ thể.





           


Cuối tháng giêng,


Ngày làm việc cuối cùng của anh vẫn được tiến hành theo một trình tự quen thuộc. Vào văn phòng, tiến đến chiếc ghế đã ngồi suốt năm năm mà bật máy, uống cà phê rồi kiểm tra lịch làm việc trong khi chờ máy khởi động. Dự án đã kết thúc tốt đẹp nhưng anh vẫn muốn tối thiểu hóa số công việc sẽ chuyển giao cho nhóm khác. Hành động ấy khiến anh trở nên thật hào hiệp trong mắt đồng nghiệp. Họ bắt đầu làm thân và tỏ ra tiếc nuối với quyết định nghỉ việc của anh, thậm chí còn tính tổ chức một bữa liên hoan chia tay nhưng anh đã lịch sự từ chối : “Rất cám ơn các anh chị nhưng em sẽ kết thúc ngày hôm nay bình thường như những ngày khác. Sau khi đi rồi chắc là em sẽ có thời gian để tạ lỗi với mọi người.”




Tối hôm đó người trường nhóm cũ đến gặp Takaki. Ông cúi mặt xuống sàn mà nói:


“Tôi xin lỗi về tất cả những bất đồng giữa chúng ta.”


Anh hơi bất ngờ nhưng cũng đáp lại:


“Em cũng xin lỗi.”


Đã một năm kể từ lần cuối họ nói chuyện trước khi người trưởng nhóm cũ bị chuyển công tác. Anh quay lại với màn hình máy tính và tiếp tục công việc…




Mình sẽ không phải quay lại nơi này nữa, nhưng sao lại cảm thấy buồn thế này?




“Em vẫn yêu anh.” Mizuno viết trong tin nhắn cuối cùng gửi cho Takaki.


“Em nghĩ mình sẽ mãi yêu anh như lúc này. Đối với em anh là người tử tế và tuyệt vời nhất mà em luôn ngưỡng mộ mặc dù có đôi chút xa cách.

Khi chúng ta bắt đầu hẹn hò em đã nhận ra trái tim của một người có thể bị người khác lấy đi dễ dàng biết chừng nào. Cứ như ngày nào em cũng bị anh hớp hồn vậy. Từng dòng tin nhắn anh gửi cho em có khi làm em buồn nhưng cũng có lúc khiến em vô cùng hạnh phúc. Em biết anh hay ghen và thường gặp rắc rối đến từ đủ lí do. Xin lỗi anh vì em nghĩ rằng cả hai chúng ta đã quá mệt mỏi rồi…

Nửa năm qua, bằng cách này hay cách khác em muốn nói với anh điều đó, nhưng chẳng lúc nào được như ý mình cả.

Em biết anh cũng yêu em nhiều như những gì anh nói, nhưng có lẽ cách chúng ta yêu nhau đã không thể hợp nhau. Và em cảm thấy hơi đau buồn trước sự khác biệt ấy.”






Lần cuối Takaki từ công ty về nhà trời đã khuya. Một buổi tối đặc biệt lạnh đến nỗi lớp cửa kính trong toa trông như là đã đóng băng. Anh ngắm tòa cao ốc ở đằng xa mà trong lòng không thấy mình thực sự tự do, hay cảm giác gấp rút phải đi tìm việc mới. Anh không chắc mình nên nghĩ về cái gì mà cười nhạt.


Đúng thôi, gần đây mình có chắc được cái quái gì đâu?

Anh ra khỏi nhà ga Shinjuku bằng cửa Tây. Trời rét như cắt da cắt thịt. Áo khoác và khăn choàng hoàn toàn vô dụng trước cái nhiệt độ này. Dãy nhà cao tầng trước mắt anh sừng sững như một pháo đài cổ xưa.


Anh lững thững đi trong bóng đêm…




Mình là một thằng ích kỷ đến thế sao?

Mười năm qua bao nhiêu người đã bị mình làm tổn thương mà không hề có lí do? Bao nhiêu lần mình đã tự biện hộ rằng “chẳng còn cách nào khác” và mình chẳng làm được gì để thôi làm tổn thương những người ấy?

Tại sao mình không thể nghiêm túc hơn trong những mối quan hệ? Tại sao mình không thể dùng những lời lẽ tốt đẹp hơn để nói chuyện với người khác?

Càng bước tiếp nỗi hối hận lại trào lên trong anh …




Anh không thể dừng nó lại.




“Em cảm thấy hơi đau buồn …”, phải chăng chỉ dùng chữ “hơi” để giúp anh bớt dằn vặt?


“Tôi xin lỗi …” Người trưởng nhóm cũ đã nói vậy.


“Thật là lãng phí…” Một giọng nói lại vang lên.


“Chúng ta sẽ kết thúc như thế này sao?” Lời cuối cùng của cô gái trợ giảng.


“Xin anh đừng tử tế với em nữa,” Sumida đã thổn thức vào cái đêm ấy, và “Cám ơn anh vì tất cả” khi từ biệt anh.


Sau cùng anh nhớ lại một lời nấc nghẹn trong điện thoại...




“Tớ xin lỗi!”




Và lời nói quan trọng nhất…




“Mình chắc rằng cậu sẽ ổn thôi, Takaki-kun.”



 Akari ơi!

GIọng nói của họ cùng găm vào thân xác anh như vô số đóa hoa gai mọc lên từ đáy biển. Còn tâm trí anh thì bị lấp đầy những âm thanh điên loạn : tiếng gió rít qua từng căn nhà, tiếng xe đạp, xe tải và vô số phương tiện giao thông khác hòa trong sự hỗn loạn bất ngờ của thành phố.




Nhưng trên hết ở đó có một tiếng khóc, tiếng khóc của anh.




Mười lăm năm trước, từ cái đêm trên chuyến xe đến Iwafune trễ hơn bốn tiếng anh đã không biết khóc. Nhưng giờ đây anh không kiềm được rồi. Anh khóc uất lên như một tảng băng lớn trong lòng vừa bị tan chảy. Chẳng còn làm gì được nữa!


Nếu không làm cho người khác được hạnh phúc, hay ít nhất là gần với hạnh phúc thì tốt nhất anh nên tồn tại mãi như thế này không phải sao?




Ánh đèn đỏ từ nóc tòa nhà cao hơn hai trăm mét chợt lóe sáng khiến Takaki ngẩng đầu lên. Anh chờ mong một sự cứu rỗi...



Đêm đó cô mở thư. Màu giấy vẫn còn trắng như chỉ vừa được viết và cô nhìn thấy nét chữ viết tay của mình hồi còn nhỏ. Mười lăm năm rồi chẳng thay đổi gì cả.


Cô lướt qua một chút rồi cẩn thận gấp lại bỏ vào phong bì. Mình sẽ đọc hết khi lớn hơn một chút nữa, cô nghĩ vậy.


Hãy còn quá sớm…




“Takaki-kun thân mến,


Mong rằng cậu vẫn khỏe.




Lúc lên kế hoạch gặp nhau tụi mình đã không ngờ tuyết rơi nhiều thế này nhỉ? Có lẽ xe của cậu bị muộn rồi, thế nên tớ quyết định viết lá thư này trong khi chờ cậu đến.


Có lò sưởi ngay bên cạnh nên tớ ấm lắm. Như mọi khi tớ có mang theo một ít giấy viết để mình có thể viết thư bất cứ lúc nào cũng được. Tớ nghĩ mình nên viết cho cậu một cái, vậy đừng đến sớm quá nếu không kế hoạch của tớ sẽ đi tong hết. Đừng vội nhé!




Quả là một quãng thời gian dài từ lần cuối chúng ta gặp nhau. Mười một tháng rồi còn gì nhỉ? Thế nên tớ thực sự có chút lo lắng đây. Lỡ tụi mình không nhận ra nhau thì làm sao? Có thể trạm dừng này quá nhỏ hẹp để tình huống đó xảy ra, nhưng mỗi khi tớ tưởng tượng về cậu trong bộ đồng phục trung học hay trang phục cầu thủ thì Takaki-kun sao mà lạ lẫm ghê.




Ưm, nên viết về cái gì nữa nhỉ? A tớ biết rồi. Tớ sẽ bắt đầu bằng việc gửi một lời cám ơn. Tớ sẽ viết ra đây tất cả những cảm xúc dành cho cậu, những cảm xúc không thể nói chính xác bằng lời. Khi chuyển đến Tokyo vào năm lớp bốn tớ đã rất mừng vì có cậu ở đó. Tớ rất hạnh phúc vì tụi mình thành bạn. Nếu không có cậu bên cạnh tớ không dám nghĩ cuộc sống ở Tokyo sẽ khó khăn tới cỡ nào.


Đó là lý do tớ đã cực kỳ không muốn rời xa Takaki-kun. Tớ đã ước được vào cùng trường và lớn lên cùng cậu. Có thể tớ đã quen với ngôi trường mới (nên đừng có quá lo cho tớ nhé!) nhưng mỗi ngày, tớ thường tự hỏi bản thân không biết bao nhiêu lần : “Sẽ tốt hơn đến chừng nào nếu có Takaki-kun ở đây?”




Tớ rất buồn khi biết tin cậu sắp phải chuyển đến một nới xa xôi hơn nữa. Dù hiện tại Tokyo và Tochigi cũng chẳng phải gần gì, nhưng tớ luôn nghĩ trong lòng “Takaki-kun vẫn ở trong tầm tay của mình.” Tớ đã nghĩ mình luôn có thể đến chỗ cậu với chỉ vài chuyến xe điện. Nhưng lần này… đến tận cực nam của Kyushu thì có lẽ là quá xa với tớ rồi.


Từ bây giờ tớ sẽ tập sống dựa vào chính bản thân mình. Tớ không tự tin rằng mình làm được, nhưng đó là điều tớ phải làm. Cả hai chúng ta đều sẽ phải như vậy.




Còn một điều nữa tờ muốn nói với cậu. Tớ viết ra đây trong trường hợp tớ không đủ can đảm để nói ra.




Tớ yêu cậu.




Tớ không biết tình yêu ấy đến từ bao giờ, nhưng rất tự nhiên tớ đã yêu cậu trước cả khi tớ nhận ra điều đó. Lần đầu gặp gỡ cậu là một cậu bé thật mạnh mẽ và tử tế. Cậu đã luôn bảo vệ tớ.




Takaki-kun này, tớ chắc rằng cậu sẽ ổn thôi. Dù cuộc sống sau này có bao trắc trở, tớ biết và luôn tin rằng cậu sẽ vượt qua mà trưởng thành thành một người lớn tốt. Dù cậu có đi xa đến đâu tớ vẫn mãi mãi yêu cậu.




Xin cậu, xin cậu hãy nhớ điều đó.”







Đêm ấy anh nằm mơ…




Anh đang ngồi viết thư trong một căn phòng chất đầy thùng các-tông. Mọi thứ đã được đóng thùng để chuẩn bị chuyển đi. Anh dự định sẽ trao bức thư cho người con gái anh yêu trong lần hẹn hò đầu tiên, nhưng rốt cuộc không làm được vì lá thư đã bị gió cuốn mất.


Trong mơ tất cả đều rõ ràng.


Nhưng, dù thế nào anh cũng phải gửi cho cô ấy. Anh biết mình phải viết một lá thư dù sẽ không ai trên đời được đọc nó.








Tớ chưa biết “trưởng thành” là như thế nào. Nhưng nếu một ngày tớ vô tình gặp lại Akari, tớ muốn được trở thành một người mà không còn xấu hổ về sự tồn tại của mình nữa.




Akari, xin hứa với cậu điều đó!
Tớ yêu cậu, mãi mãi yêu cậu.                                                               

Giữ gìn sức khỏe nhé.




Tạm biệt.



Tháng tư. Đường phố Tokyo tràn ngập hoa anh đào.




Một ngày làm việc vất vả khiến mãi đến gần trưa Takaki Toono mới thức dậy. Anh kéo tấm rèm sang bên để những luồng nắng vàng tươi ùa vào mà lan tỏa khắp phòng. Gió xuân từng làn từng làn hùa nhau len lỏi trong mê cung nhà cao tầng cùng những tia sáng phản chiếu từ những ô cửa sổ tí tẹo làm anh thấy dễ chịu.


Giữa đám người khổng lồ của Tokyo có một cây anh đào lớn, nó đứng một mình và là cây nở rộ bông nhất.




Sau ba tháng nghỉ việc anh vừa bắt đầu đi làm trở lại, đủ loại việc từ thiết kế cho đến lập trình. Anh không chắc mình còn tiếp tục những công việc ngắn hạn này bao lâu nhưng quả là anh không chịu được việc ngồi không. Lập trình bỗng dưng đầy cuốn hút trở lại và tiếng gõ phím cũng bắt đầu nghe vui tai.


Bữa sáng muộn của anh là vài lát bánh mì quệt bơ nướng cùng một tách cà phê au lait [8]. Ăn xong anh quyết định hôm nay sẽ là ngày nghỉ, vì công việc gần đây nhất của anh đã kết thúc vào ngày hôm qua.







Thế là anh với lấy chiếc áo khoác mỏng rồi đi ra ngoài. Cơn gió nhẹ lùa vào tóc anh mang theo mùi hương của ngày hôm qua vào bầu khí quyển. Một ngày thật đẹp. Từ khi nghỉ việc anh bắt đầu cảm nhận được sự khác lạ đến từ những thời điểm khác nhau trong ngày. Sáng sớm, anh có thể cảm thấy sự bắt đầu của một ngày qua một mùi hương, đến hoàng hôn anh lại cảm thấy sự kết thúc với một mùi hương rất khác. Một trời đầy sao cũng có mùi hương và một ngày âm u cũng thế, chúng đều hòa lẫn vào cuộc sống vội vã của từng con người trong thành phố này.


Anh đã từng mất đi những cảm giác ấy…




Takaki đi giữa một con đường hẹp trong khu dân cư. Anh cảm thấy khát nên mua một lon cà phê ở máy bán nước tự động rồi đi vào công viên. Anh vừa uống vừa quan sát mấy đứa trẻ đang chơi đùa ở cổng và những chiếc xe hơi nối nhau đi qua cầu. Sau dãy nhà chung cư là những tòa cao ốc của khu Shinjuku, từ đây nhìn chúng như những ngọn tháp vươn thẳng lên nền trời chói lọi có những cánh buồm xanh biếc vĩ đại giữa một đại dương mây trắng.


Anh tiếp tục đi về phía con đường có tuyến đường ray bắt ngang qua. Cây anh đào lớn đứng gần đó làm cho lớp nhựa đường xung quanh bị phủ lên một tấm lụa trắng hồng. Anh nhìn những cánh hoa chầm chậm rơi xướng mặt đất mà chợt nghĩ đến…


Năm centimet một giây.

Tiếng chuông báo hiệu xe đến vang lên, nhanh dần…




Anh trông thấy một người phụ nữ ở bên kia đường. Đôi giày của cô gõ những tiếng lách cách nổi lên trên cái nền dồn dập của âm thanh cảnh báo. Một tia sáng loé lên trong anh. Hai người tiếp tục đi về hướng ngược nhau nhưng anh có một cảm giác mạnh mẽ rằng, nếu anh quay lại thì cô ấy cũng sẽ quay lại. Anh chỉ biết là cô sẽ làm vậy.


Anh dừng lại ở bên kia con đường và từ từ quay lại. Cô ấy cũng thế. Trong một khoảnh khắc…




Ánh mắt của hai người gặp nhau.




Ngay lập tức trái tim và hồi ức của anh khuấy động như đoàn tàu đi ngang qua vừa chia đôi cảnh vật và tầm nhìn của họ.




Liệu cô ấy có còn đứng đó sau khi tàu đi qua?

Không còn quan trọng nữa.




Chỉ cần đúng là cô ấy thôi, là quá đủ cho một phép màu rồi!

Takaki Toono đã tìm được câu trả lời cho mình. Trước khi đoàn tàu đi qua hết anh đã quay lại mà bước tiếp với một nụ cười trên môi.




~One more time, one more chance~ [1] Nơi Takaki chuyển đến sống trong câu chuyện thứ hai là đảo Tanegashima còn Kagoshima được nhắc đến trong câu chuyện thứ nhất là tên tỉnh, bao gồm cả đảo Tanegashima.


[2] Thiết bị đầu cuối là những thiết bị như: Máy điện thoại, máy tính, máy fax... Thiết bị đầu cuối có nhiệm vụ giải mã những tín hiều và mã do tổng đài chuyển đến.

[3] Giao diện lập trình ứng dụng  (Application Programming Interface hay API) là một giao diện mà một hệ thống máy tính hay ứng dụng cung cấp để cho phép các yêu cầu dịch vụ có thể được tạo ra từ các chương trình máy tính khác, và cho phép dữ liệu có thể được trao đổi qua lại giữa chúng.

[4] Vật lý lượng tử là chuyên ngành vật lý giải thích các hiện tượng ở quy mô nguyên tử hay nhỏ hơn (hạ nguyên tử).

[5] Kích cỡ nano thường dùng để mô tả những dạng cấu trúc vật chất có kích cỡ từ 1 đến 100 nanomet (nm) (1m = 1 tỉ nm)


[6] Lý thuyết siêu dây là một nỗ lực nhằm giải thích bản chất của tất cả vật chất lẫn các lực tồn tại trong tự nhiên chỉ bằng một lý thuyết chung nhất.


[7] San : là tiếp hậu ngữ thông dụng nhất trong xã giao của người Nhật, cả người quen hoặc người lạ đều dùng được (thân mật hơn thì có –chan và –kun, tôn kính hơn thì có –sama, –sempai,…).



[8] Au lait là loại cà phê sữa pha theo kiểu Pháp. Người ta pha au lait bằng cách thêm sữa nóng vào cà phê espresso "đúp" (espresso doppio) hoặc cà phê espresso "kéo" (espresso lungo), hoặc cũng có thể là cà phê phin.

Lưu Pocket Xuất PDF
qVXrCVu.png


Theo dõi & Thanh chuyển trang

Community content is available under CC-BY-SA unless otherwise noted.